Tòa thánh: “Nhiệm vụ của Chính phủ không phải là xác định tôn giáo hay công nhận giá trị của tôn giáo”

Thứ Bảy, 31 tháng 3, 2012



Ngày 27-2-2012, Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc đã khai mạc khoá họp lần thứ 19 tại Geneva, Thuỵ Sĩ, với sự tham gia của hơn 80 bộ trưởng cùng nhiều quan chức cấp cao từ các quốc gia thành viên và đại diện các tổ chức quốc tế. Khoá họp kéo dài trong 4 ngày.

Phái đoàn Toà Thánh đã tham gia Khoá họp này với tư cách Quan sát viên Thường trực tại Liên Hợp Quốc. Ngày 1-3, Đức Tổng Giám mục Silvano M. Tomasi đã có bài phát biểu tại Hội đồng như sau:
silvano_m_tomasi_vatican_un.jpg
Thưa bà chủ tịch,
Ngày nay việc thực hiện quyền con người là một thách đố khó khăn, đặc biệt là đối với các quyền cơ bản và bất khả nhượng như “tự do tư tưởng, tự do lương tâm, tự do tôn giáo hay tín ngưỡng”.
Trong nhiều yếu tố, những thay đổi chính trị, nhận thức sai lầm về vai trò của tôn giáo, thủ đoạn, và sự hiểu biết mơ hồ về chủ nghĩa thế tục đã dẫn đến tình trạng bất bao dung và thậm chí đàn áp thẳng tay con người vì niềm tin tôn giáo. Quyền tự do thể hiện tôn giáo hay tín ngưỡng của mình trong việc giảng dạy, hành đạo, việc thờ phượng và tuân giữ luật đạo, vốn được đảm bảo bởi luật nhân quyền và các tổ chức quốc tế, lại bị coi thường tại nhiều nơi trên thế giới. Những chính sách và áp dụng ngột ngạt như vậy khiến cho nhiều công dân muốn đóng góp vào đời sống xã hội và sự tiến bộ ở đất nước họ phải gặp nguy hiểm. Tòa Thánh đánh giá cao việc Hội đồng Nhân quyền thường xuyên quan tâm đến vấn đề chính yếu này cũng như những nỗ lực liên quan và các quyết định do Cơ quan Thủ tục đặc biệt ban hành.
Tuy nhiên, tại nhiều quốc gia, khoảng cách đang gia tăng giữa các nguyên tắc được mọi người nhìn nhận và việc áp dụng chúng nơi người dân trong đời sống hằng ngày. Những nghiên cứu nghiêm túc đưa ra các dữ liệu đáng tin cậy về các kiểu vi phạm nghiêm trọng quyền tự do tôn giáo hiện nay lặp đi lặp lại. Kitô hữu không phải là nạn nhân duy nhất, nhưng các cuộc tấn công khủng bố nhắm vào các Kitô hữu ở châu Phi, Trung Đông và châu Á đã gia tăng 309% từ năm 2003 đến 2010. Khoảng 70% dân số thế giớisống tại các quốc gia có những hạn chế về tín ngưỡng tôn giáo và hành đạọ, và các cộng đồng tôn giáo thiểu số phải trả giá đắt nhất.
Nói chung, việc gia tăng những hạn chế về tôn giáo có ảnh hưởng đến hơn 2,2 tỉ người. Những ngườinày hoặc không được xã hội bảo vệ, hoặc phải chịu những hạn chế bất công do chính phủ áp đặt, hoặc trở thành nạn nhân của bạo lực do một sự mù quáng bốc đồng. Hiển nhiên là cộng đồng quốc tế cần nỗ lực hơn nữa để bảo vệ mọi người được hưởng quyền tự do tôn giáo và thực hành tôn giáo. Hành động như vậy càng cấp bách vì trong nhiều quốc gia tình hình đang xấu đi và vì báo cáo thực tế về các vi phạm này bị coi nhẹ, mặc dù thực tế, nó cần được nhấn mạnh trong các báo cáo thích đáng.
Tuyên ngôn về Quyền Con người chỉ cho thấy tôn trọng nhân phẩm của mọi người là nền tảng để xây dựng việc bảo vệ quyền con người. Trong hoàn cảnh hiện nay, cần nhắc lại rằng các quốc gia phải bảođảm cho mọi công dân của họ được hưởng quyền tự do tôn giáo trên phương diện cá nhân, gia đình,cũng như cộng đồng, và tham gia vào lĩnh vực công cộng. Trên thực tế, tự do tôn giáo không phải là một quyền phát sinh, hoặc được ban phát, mà là một quyền căn bản và bất khả nhượng của con người.Không được coi niềm tin tôn giáo là có hại hoặc mang tính tấn công chỉ vì nó khác với đa số. Nhiệm vụ của Chính phủ không phải là xác định tôn giáo hay công nhận giá trị của nó, nhưng là trao cho các cộng đồng tôn giáo tư cách pháp nhân để họ có thể hoạt động một cách hoà bình trong khuôn khổ luật pháp. Tôn trọng tự do tôn giáo của mọi người có thể bị đe dọa ở những nơi mà khái niệm “tôn giáo nhà nước”được công nhận, đặc biệt khi tôn giáo nhà nước trở thành nguồn gốc của đối xử bất công với người khác, dù là người có niềm tin tôn giáo khác hoặc người không tin.
Ngoài những vấn đề về từ thiện, vấn đề gay cấn đối đầu với việc cổ vũ và bảo vệ quyền con người tronglĩnh vực tự do tôn giáo là sự bất bao dung - vốn dẫn đến bạo lực và giết hại nhiều người vô tội hằngnăm đơn giản chỉ vì niềm tin tôn giáo của họ. Do đó, trách nhiệm chung và thực tế là duy trì sự khoan dung lẫn nhau và tôn trọng các quyền con người và bình đẳng hơn nữa giữa các công dân thuộc các tôn giáo khác nhau để đạt được một nền dân chủ lành mạnh - trong đó, vai trò chung của tôn giáo và sựphân biệt giữa các tôn giáo và các lĩnh vực thế tục được công nhận. Trong thực tế cuộc sống, khi đượcsống trong bối cảnh chấp nhận lẫn nhau, các quan hệ giữa đa số và thiểu số cho phép mọi người hợp tác và thỏa thuận với nhau, đồng thời mở đường cho sự cùng tồn tại hòa bình và xây dựng. Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu mong muốn này, cần phải vượt qua một nền văn hoá hạ thấp giá trị con người và có ý định loại bỏ tôn giáo ra khỏi đời sống công cộng. Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI đã mô tả rõ tình trạng này: “Đáng buồn thay, tại một số quốc gia, chủ yếu là ở phương Tây, người ta ngày càng ít gặp -trong giới chính trị và văn hoá, cũng như trong các phương tiện truyền thông - sự tôn trọng và có khi lại là thù địch, nếu không nói là khinh miệt, đối với tôn giáo và nhất là đối với Kitô giáo. Rõ ràng là nếu chủ thuyết tương đối được coi như một yếu tố thiết yếu của nền dân chủ, thì có nguy cơ người ta sẽ coi chủ nghĩa thế tục theo nghĩa loại trừ, hay chính xác hơn, phủ nhận tầm quan trọng xã hội của tôn giáo. Nhưng một cách tiếp cận như vậy sẽ tạo ra sự đối đầu và chia rẽ, làm rối loạn bình an, gây hại cho môi sinh của con người và nói chung, một khi loại trừ những cách tiếp cận khác với cách của mình, thì sẽ kết thúc trong một điểm chết. Vì thế, cần cấp thiết phác hoạ một chủ nghĩa thế tục tích cực và cởi mở, căn cứ trên quyền tự chủ chính đáng của quyền thế tục và quyền thiêng liêng, có thể thúc đẩy sự hợp tác lành mạnh và một tinh thần chia sẻ trách nhiệm”.
Thưa Bà Chủ tịch,
Tôn giáo không phải là một mối đe doạ, nhưng là một nguồn lực. Tôn giáo góp phần vào sự phát triển của các nền văn minh, và điều ấy tốt cho mọi người. Các hoạt động và tự do tôn giáo cần được bảo vệ để sự hợp tác giữa các tôn giáo và xã hội có thể thăng tiến công ích. Một nền văn hoá khoan dung, chấp nhận lẫn nhau và đối thoại là cấp bách. Hệ thống giáo dục và truyền thông đóng vai trò quan trọng bằng cách loại bỏ thành kiến ​​và hận thù khỏi sách giáo khoa, tin tức và báo chí, và phổ biến thông tin chính xác và công bằng về mọi nhóm thành phần trong xã hội. Tuy nhiên, việc thiếu giáo dục và thông tin, vốn tạo điều kiện cho người ta dễ dàng thao túng con người để hưởng lợi về chính trị, lại thường cóliên quan đến tình hình kém phát triển, nghèo đói, thiếu tham gia quản lý xã hội một cách hiệu quả.
Một môi trường công bằng xã hội hơn sẽ là mảnh đất màu mỡ cho việc thực hiện mọi quyền của con người. Các tôn giáo là những cộng đồng dựa trên niềm tin và tự do tôn giáo bảo đảm sẽ đóng góp cácgiá trị đạo đức mà nếu không có các giá trị này thì cũng chẳng có tự do của mọi người. Vì lý do đó, trách nhiệm cấp bách và giúp ích của cộng đồng quốc tế là chống lại khuynh hướng gia tăng bạo lực vớicác nhóm tôn giáo cũng như chống lại điều sai lầm và thái độ trung lập giả trá nhằm mục đích trung lập hoá tôn giáo trong thực tế.
Xin cảm ơn Bà Chủ tịch.
(Vatican Radio, 02-03-2012)
Huy Hoàng
WHD

Bài giảng của ĐGH Benedicto 16 trong lễ Bổn mạng Cu Ba

Thứ Tư, 28 tháng 3, 2012

Anh chị em thân mến,

Cha tạ ơn Thiên Chúa đã cho Cha được đến với anh chị em và thực hiện được chuyến đi đầy mong đợi này. Cha chào đón Đức Cha Dionisio García Ibanez, Tổng Giám Mục Santiago de Cuba, và Cha cám ơn ngài về những lời chào đón nồng nhiệt thay mặt cho tất cả mọi người. Cha chào các Giám Mục Cuba và những người đã đến từ những nơi khác, và các linh mục, các nam nữ tu sĩ, chủng sinh và anh chị em giáo dân hiện diện trong buổi cử hành này. Cha cũng không quên tất cả những ai, vì bệnh tật, tuổi già, hoặc vì những lý do khác, không thể tham gia với chúng ta. Cha cũng chào đón các nhà chức trách dân sự đã muốn tham gia cùng chúng ta.


Đây là Thánh Lễ đầu tiên mà Cha vui mừng được cử hành trong chuyến viếng thăm mục vụ của Cha trên đất nước này, diễn ra trong bối cảnh của Năm Thánh Đức Mẹ được cử hành để vinh danh và tôn kính Đức Mẹ Bác Ái, Bổn Mạng của Cuba, nhân kỷ niệm 400 tìm thấy bức tượng đáng kính của Mẹ tại đất nước được chúc phúc này. Cha không thể quên những hy sinh và cống hiến để chuẩn bị cho Năm Thánh, đặc biệt trên phương diện siêu nhiên. Cha rất cảm động khi nghe nói đến lòng nhiệt thành mà rất nhiều người dân Cuba dành cho Đức Maria khi chào đón và khẩn cầu Mẹ trong suốt cuộc thánh du của Mẹ tại mọi miền của đảo quốc này.

Những sự kiện quan trọng này của Giáo Hội tại Cuba tỏa sáng đặc biệt hơn vì trùng với ngày toàn thể Giáo Hội Hoàn Vũ cử hành lễ Thiên Thần Truyền Tin cho Đức Trinh Nữ Maria. Mầu nhiệm Nhập Thể của Ngôi Hai Thiên Chúa là mầu nhiệm trung tâm của đức tin Kitô giáo, và trong đó Mẹ Maria chiếm vị trí rất quan trọng. Tuy nhiên, chúng tôi tự hỏi, đâu là ý nghĩa của mầu nhiệm này? Và, đâu là tầm quan trọng của mầu nhiệm ấy trong cuộc sống cụ thể của chúng ta?

Trước hết, chúng ta hãy xem mầu nhiệm Nhập Thể có ý nghĩa gì. Trong Tin Mừng của Thánh Luca, chúng ta nghe những lời của thiên sứ báo cho Đức Maria: "Thánh Thần sẽ ngự xuống trên Bà, và quyền năng của Đấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên Bà, và con trẻ được sinh ra sẽ được gọi là thánh, là Con Thiên Chúa "(Lc 1:35). Trong Đức Maria, Con Thiên Chúa làm người, hoàn tất lời tiên tri của tiên tri Isaia: "Này, một trinh nữ sẽ thụ thai và sinh hạ một con trai, và con trẻ sẽ được gọi là Emmanuel, nghĩa là 'Thiên Chúa ở cùng chúng ta" (Is. 7:14). Chúa Giêsu, Ngôi Lời làm người, thực sự là Thiên Chúa ở cùng chúng ta, là người đã đến sống giữa chúng ta để chia sẻ thân phận con người của chúng ta. Thánh Gioan Tông đồ trình bày mầu nhiệm ấy như sau: "Và Ngôi Lời đã hóa thành nhục thể và ở giữa chúng ta" (Ga 1:14). Thành ngữ, "đã hóa thành nhục thể" chỉ ra thực tại nhân loại của chúng ta một cách cụ thể và hữu hình nhất. Trong Chúa Kitô, Thiên Chúa đã thực sự đi vào thế giới, Ngài đã bước vào lịch sử của chúng ta, Ngài đã cư ngụ giữa chúng ta, và vì thế hoàn thành mong muốn sâu xa nhất của con người là thế giới này có thể thật sự trở thành một ngôi nhà xứng đáng của nhân loại. Mặt khác, khi Thiên Chúa bị gạt sang một bên, thế giới sẽ trở thành một nơi khắc nghiệt cho con người, và làm thất vọng ơn gọi chân thật của tạo hóa muốn biến thế giới này thành một không gian của giao ước cho lời “Xin Vâng” trước tình yêu giữa Thiên Chúa và phàm nhân nào đáp lại lời Ngài. Đức Maria đã làm như vậy như là hoa quả đầu tiên của các tín hữu với lời "Xin Vâng" không ngần ngại với Chúa.

Vì lý do này, khi suy niệm mầu nhiệm Nhập Thể, chúng ta không thể không hướng cái nhìn của chúng ta về Đức Mẹ với suy tư, lòng biết ơn, và tình yêu khi nhận ra Thiên Chúa đã đến trong thế giới như thế nào. Ngài đã muốn phụ thuộc vào lời xin vâng của một trong những tạo vật do Ngài tác thành. Chỉ khi Đức Trinh Nữ trả lời thiên sứ, "Này tôi là tôi tớ Chúa, tôi xin vâng như lời Thánh Thiên Thần Truyền" (Lc 1:38), Ngôi Lời Hằng Có Đời Đời của Chúa Cha mới bắt đầu sự tồn tại phàm nhân của mình. Thật là cảm động, khi thấy Thiên Chúa không chỉ tôn trọng tự do của con người mà thôi, nhưng Ngài đi xa đến độ thỉnh cầu tự do ấy. Và chúng ta cũng thấy sự khởi đầu của cuộc sống trần thế của Con Thiên Chúa được đánh dấu như thế nào bằng hai tiếng "Xin Vâng" trước kế hoạch cứu độ của Chúa Cha, đó là lời "Xin Vâng" của Chúa Kitô, và lời "Xin Vâng"của Đức Maria. Sự vâng phục Thiên Chúa này sẽ mở ra những cánh cửa của thế giới cho sự thật, và ơn cứu rỗi. Thiên Chúa đã tạo dựng chúng ta như hoa quả tình yêu vô biên của Ngài, do đó, sống phù hợp với thánh ý Chúa là cách thức để gặp được căn tính thật sự của chúng ta, sự thật về bản ngã của chúng ta, trong khi xa rời Thiên Chúa chúng ta tha hóa chính mình và rơi vào hư vô. Sự vâng phục của đức tin là tự do thực sự, là sự cứu chuộc thực sự, cho phép chúng ta kết hiệp với tình yêu của Chúa Giêsu trong quyết tâm của mình sống phù hợp với thánh ý Chúa Cha. Ơn cứu chuộc luôn luôn là quá trình nâng lên của ý chí con người muốn hoàn toàn hiệp thông với Thiên Chúa.

Anh chị em thân mến, trước cái nhìn trìu mến của Đức Mẹ Bác Ái Mỏ Đồng, tôi kêu gọi anh chị em hãy tăng cường đức tin anh chị em, để anh chị em có thể sống trong Chúa Kitô và cho Chúa Kitô, và trang bị cho mình lòng khoan dung, yêu chuộng hòa bình và hiểu biết, để anh chị em có thể phấn đấu xây dựng một xã hội đổi mới và cởi mở, một xã hội tốt hơn, xứng đáng hơn của nhân loại, và phản ánh đẹp hơn sự tốt lành của Thiên Chúa. Amen.



Vietcatholic.org
-------------------------------------------


March 27, 2012.

(Romereports.com) During the Mass in honor of the patroness of Cuba, Our Lady of Charity, Benedict XVI said he was “full of excitement knowing the fervor that Cubans had for the Virgin”.

Dear Brothers and Sisters,

I give thanks to God who has allowed me to come to you and to make this much anticipated trip. I greet Bishop Dionisio García Ibáñez, Archbishop of Santiago de Cuba, and I thank him for his warm words of welcome offered on behalf of everyone. I greet the Bishops of Cuba and those who have come from elsewhere, and the priests, religious men and women, seminarians and lay faithful present for this celebration. I cannot forget all those who, for reasons of illness, advanced age or for other motives, are not able to join us. I also greet the civil Authorities who have graciously wished to join us.

This first Holy Mass which I have the joy of celebrating during my pastoral visit to this country, takes place in the context of the Marian Jubilee Year called to honor and to venerate Our Lady of Charity of El Cobre, Patroness of Cuba, in this fourth centenary of the discovery and presence of her venerable statue in this blessed land. I cannot forget the sacrifices and the dedication with which this jubilee has been prepared, especially spiritually. I was deeply touched to hear of the fervor with which Mary has been welcomed and invoked by so many Cubans during her journey to every corner of the island.

These important events in the Church in Cuba take on a special luster because of the feast celebrated today throughout the universal Church: the Annunciation of the Lord to the Virgin Mary. The Incarnation of the Son of God is the central mystery of the Christian faith, and in it Mary occupies a central place. But, we ask, what is the meaning of this mystery? And, what importance does it have for our concrete lives?

First of all, let us see what the Incarnation means. In the Gospel of Saint Luke we heard the words of the angel to Mary: "The Holy Spirit will come upon you, and the power of the Most High will overshadow you; therefore the child to be born will be called holy, the Son of God" (Lk 1:35). In Mary, the Son of God is made man, fulfilling in this way the prophecy of Isaiah: "Behold, a young woman shall conceive and bear a son, and shall call his name Immanuel, which means ‘God-with-us’" (Is 7:14). Jesus, the Word made flesh, is truly God-with-us, who has come to live among us and to share our human condition. The Apostle Saint John expresses it in the following way: "And the Word became flesh and dwelt among us" (Jn 1:14). The expression, "became flesh" points to our human reality in most concrete and tangible way. In Christ, God has truly come into the world, he has entered into our history, he has set his dwelling among us, thus fulfilling the deepest desire of human beings that the world may truly become a home worthy of humanity. On the other hand, when God is put aside, the world becomes an inhospitable place for man, and frustrates creation’s true vocation to be a space for the covenant, for the "Yes" to the love between God and humanity who responds to him. Mary did so as the first fruit of believers with her unreserved "Yes" to the Lord.

For this reason, contemplating the mystery of the Incarnation, we cannot fail to turn our eyes to her so as to be filled with wonder, gratitude and love at seeing how our God, coming into the world, wished to depend upon the free consent of one of his creatures. Only from the moment when the Virgin responded to the angel, "Behold, I am the handmaid of the Lord; let it be to me according to your word" (Lk 1:38), did the eternal Word of the Father began his human existence in time. It is touching to see how God not only respects human freedom: he almost seems to require it. And we see also how the beginning of the earthly life of the Son of God was marked by a double "Yes" to the saving plan of the Father - that of Christ and that of Mary. This obedience to God is what opens the doors of the world to the truth, to salvation. God has created us as the fruit of his infinite love; hence, to live in accordance with his will is the way to encounter our genuine identity, the truth of our being, while apart from God we are alienated from ourselves and are hurled into the void. The obedience of faith is true liberty, authentic redemption, which allows us to unite ourselves to the love of Jesus in his determination to conform himself to the will of the Father. Redemption is always this process of the lifting up of the human will to full communion with the divine will (cf. Lectio Divina with the parish priests of Rome, 18 February 2010).

Dear brothers and sisters, today we praise the Most Holy Virgin for her faith, and with Saint Elizabeth we too say, "Blessed is she who believed" (Lk 1:45). As Saint Augustine said, Mary conceived Christ by faith in her heart before she conceived him physically in her womb; Mary believed and what she believed was came to be in her (cf. Sermo 215, 4: PL 38, 1074). Let us ask the Lord to strengthen our faith, to make it active and fruitful in love. Let us implore him that, like her, we may welcome the word of God into our hearts, and carry it out with docility and constancy.


The Virgin Mary, by her unique role in the mystery of Christ, represents the exemplar and model of the Church. The Church, like the Mother of Christ, is also called to embrace in herself the mystery of God who comes to live in her. Dear brothers and sisters, I know with what effort, boldness and self-sacrifice you work every day so that, in the concrete circumstances of your country, and at this moment in history, the Church will better present her true face as a place in which God draws near and encounters humanity. The Church, the living body of Christ, has the mission of prolonging on earth the salving presence of God, of opening the world to something greater than itself, to the love and the light of God. It is worth the effort, dear brothers and sisters, to devote your entire life to Christ, to grow in his friendship each day and to feel called to proclaim the beauty and the goodness of his life to every person, to all our brothers and sisters.

I encourage you in this task of sowing the word of God in the world and offering to everyone the true nourishment of the body of Christ. Easter is already approaching; let us determine to follow Jesus without fear or doubts on his journey to the Cross. May we accept with patience and faith whatever opposition or affliction may come, with the conviction that, in his Resurrection, he has crushed the power of evil which darkens everything, and has brought the dawn of a new world, the world of God, of light, of truth and happiness. The Lord will not fail to bless with abundant fruits the generosity of your commitment.

The mystery of the Incarnation, in which God draws near to us, also shows us the incomparable dignity of every human life. In his loving plan, from the beginning of creation, God has entrusted to the family founded on matrimony the most lofty mission of being the fundamental cell of society and an authentic domestic church. With this certainty, you, dear husbands and wives, are called to be, especially for your children, a real and visible sign of the love of Christ for the Church. Cuba needs the witness of your fidelity, your unity, your capacity to welcome human life, especially that of the weakest and most needy.

Dear brothers and sisters, before the gaze of Our Lady of Charity of El Cobre, I appeal to you to reinvigorate your faith, that you may live in Christ and for Christ, and armed with peace, forgiveness and understanding, that you may strive to build a renewed and open society, a better society, one more worthy of humanity, and which better reflects the goodness of God. 
Amen.

Linh đạo "Đường Hy Vọng" - 1/7

Thứ Năm, 22 tháng 3, 2012

Vị Giám mục không biết sốt ruột

Thứ Hai, 12 tháng 3, 2012


Đây là lần thứ hai tôi ghé thăm Đại Chủng Viện Thánh Giuse Hànội. Năm ngoái tôi đã được vinh dự nói chuyện với các sinh viên Ban Thần Học, và năm nay với các sinh viên Ban Triết Học tại Cổ Nhuế. Cả hai buổi nói chuyện này, nội dung nhấn mạnh đến sự trưởng thành tâm lý và tâm linh. Sự trưởng thành cần thiết để không những giúp các sinh viên sống tự tin, vui vẻ, hòa đồng với mọi người, mà còn chuẩn bị cho những bước kế tiếp trên con đường phục vụ Giáo Hội và dân Chúa một cách thánh thiện qua thiên chức linh mục.

Vì rơi vào những ngày cuối tuần nên các sinh viên phải lo công tác phục vụ tại các giáo xứ. Lại nữa, dịp này Đại Chủng Viện bận rộn tiếp đón Phái Đoàn Tòa Thánh nên Đức Cha Giám Đốc đã tỏ ra lấy làm tiếc vì không xếp được chương trình để tôi nói chuyện với các sinh viên Thần Học như năm trước. Nhằm đáp lại tấm thịnh tình đó của ngài, sau đây là một vài cảm nghĩ của tôi về lần thăm viếng và gặp gỡ này như một chia sẻ thân tình thay cho bài nói chuyện của tôi gửi tới các sinh viên Thần Học.

Thoạt nhìn người ta cứ tưởng rằng Đức Cha Giám Đốc là một con người khô khan, khép kín, bảo thủ, nghiêm nghị, và khó tính. Nhưng nếu tìm hiểu kỹ mới khám phá ra rằng nơi con người ấy có những đức tính hoàn toàn trái ngược: Hiền từ, khiêm nhường, phó thác, khôn ngoan, và giầu tình cảm. Những đức tính ấy, cộng với lòng yêu mến Thiên Chúa, yêu mến Giáo Hội và các linh hồn đã đúc kết nên một vị giám mục mà tôi đã thân mật gọi ngài, “Đức Giám Mục không biết sốt ruột”!

Cụm từ “không biết sốt ruột” ở đây tôi dùng theo một nghĩa tích cực và trang trọng. Mục đích nói lên rằng con người tự nhiên của ngài với những đức tính nổi bật cũng như những khuyết điểm tự nhiên đã được ngài luyện tập, gọt dũa đến thuần thục. Kết quả của sự hòa nhập uyển chuyển này là một tâm hồn thanh thản, một cái nhìn thông thoáng, nhẹ nhàng đối với mọi việc, mọi vấn đề dù to hay nhỏ, dù quan trọng hay không quan trọng thường ngày vẫn xảy ra chung quanh cuộc sống. Vui cũng như buồn, hạnh phúc cũng như đau khổ, thử thách không làm bận tâm, lo lắng, và sợ hãi. Nhờ không biết sốt ruột, ngài đã trở nên một mô phạm cũng như may mắn cho các chủng sinh được sống và được hưởng sự giáo huấn của ngài.

Dù không muốn đụng chạm đến sự khiêm nhường của ngài, nhưng qua những câu chuyện trao đổi, tôi thật cảm động khi biết ngài đã chắt chiu từng đồng, từng xu lo tìm kiếm, chạy vạy để đem lại cho các chủng sinh miếng cơm, manh áo, đôi giày… Nơi chốn và hoàn cảnh học tập của Đại Chủng Viện hiện nay tuy không thoải mái, tiện nghi nhưng cũng không quá thiếu thốn, nghèo nàn. Và nếu so sánh với mức sống, sinh hoạt của phần lớn các tín hữu cũng như dân chúng thì đời sống và hoàn cảnh ấy vẫn được coi là thích hợp.

Chu toàn vai trò Giám Đốc Đại Chủng Viện, và trách nhiệm của một Giám Mục Phụ Tá Tổng Giáo Phận Hànội với một tinh thần “không sốt ruột”. Ngài luôn tỏ ra bình tĩnh, ân cần và có giờ cho những người mà ngài cần gặp gỡ, tiếp xúc bằng thái độ ung dung, tự tại. Tôi cho đây là nhân đức, vì trong sự phát triển mức độ trưởng thành cả về tâm lý lẫn tâm linh, đôi khi con người vẫn bị lấn cấn, lên xuống từ bình thường đến nhân đức rồi lại từ nhân đức giảm xuống còn bình thường, điều mà rất dễ nhận xét qua cử chỉ, lời nói, ánh mắt của một người. Thí dụ, bẳn gắt, nóng nảy, hấp tấp, khắt khe, bắt bẻ người này, người khác. Theo tôi, những điểm tiêu cực ấy không thấy có nơi ngài. 

Qua những nét tâm lý bộc lộ bằng hành động, ngài là một người giầu tình cảm, dễ xót thương, và gần gũi với những đau thương tinh thần cũng như thể xác của người khác. Như Thầy Chí Thánh ôm vác con chiên thương tật trên vai, ngài cũng biểu tỏ tâm tình ấy trong việc lo lắng, hiểu thấu, và săn sóc cho từng sinh viên trong Đại Chủng Viện. Ngài tỏ ra rất thông cảm và hiểu biết từng người với những ưu và khuyết điểm cũng như cá tính dị biệt.

Không những dễ dàng xót thương, và cảm nhận cách tinh tế trong cảm tình đối với người khác, ngài còn là một người giầu nội tâm, biết lắng nghe và đón nhận thánh ý Chúa cách bén nhạy như Maria đã âu yếm ngồi dưới chân Chúa để nghe và chia sẻ những suy tư của Ngài. Ai cũng có thể dễ dàng nhận ra nội tâm sâu xa này trong cử chỉ nhẹ nhàng, bình tĩnh, khoan thai, nhưng cũng rất tế nhị và trong giao tế xã hội khi ngài gặp gỡ, tiếp xúc với người này, người khác.

Và điểm sau cùng là tính chất sâu lắng, chín chắn, kiên trì trong các quyết định và hành động. Ngài làm việc sau khi đã nghe ngóng, đón nhận ý kiến của người khác. Đem tất cả những dữ kiện ấy đặt dưới chân Chúa, trình bày và tìm hiểu ý Ngài. Và sau khi đã nhận ra Chúa muốn ngài làm gì, thì đây là lúc ngài bền bỉ và can đảm trong hành động. 

Tóm lại, với tất cả những yếu tố thuộc về cá tính như trên, ngài đúng là một người hài hòa được những nhu cầu tâm linh và vật chất. Can đảm và chín chắn với quyết định. Tế nhị và hòa đồng với mọi người. Và như trên tôi vừa trình bày, ngài đã lột tả mình qua mẫu người mà theo tâm lý học gọi là Thụ Cảm. Một con người rất giầu tình cảm. Dễ xót thương. Ưa thích thiên nhiên. Sống nhiều về quá khứ. Và cũng rất lãng mạn. Sự thân mật là đức tính nổi bật, cũng như dễ mủi lòng đã trở nên khuyết điểm của ngài vì lòng quá xót thương. Ở một điểm khác, nó đã cho ngài biệt hiệu “Giám mục không biết sốt ruột”!

Nhưng tại sao tôi lại muốn chia sẻ cảm nghĩ của tôi về điều này với các sinh viên Thần Học? Thật ra, dù tâm lý gì đi nữa, dù triết học gì đi nữa, và dù phân tách cá tính, quan điểm con người theo trường phái nào đi nữa, điều cần thiết nhất là phải tự ý thức về mình, tự muốn sửa mình, và tự muốn thăng hoa đời mình. Ở đây yếu tố thời gian đã chứng minh những cá tính của Đức Cha Giám Đốc với hơn 40 nhẫn nại cho thiên chức linh mục từ một chủng sinh đến chàng hớt tóc dạo, và bây giờ giữa những tế nhị, phức tạp trong nhiệm vụ Giám Đốc Đại Chủng Viện cũng như Giám Mục Phụ Tá cho Tổng Giáo Phận Hànội. Học, suy ngắm, và sống được như vậy cũng chính là học và sống cho cuộc đời thánh hiến, cho ơn gọi dấn thân vô điều kiện cho Chúa và cho các linh hồn. Và đây là những gì các sinh viên Thần Học không cần phải đi tìm đâu xa, nhưng đang có trước mặt.

Thật vậy, rất may cho các sinh viên nào mà tính tình nóng nảy, hành động bất nhất, ưa tìm kiếm cái tôi và danh vọng mà quên đi mục đích ơn gọi. Quên đi rằng mình đang trong thời gian tu học. Đối với các sinh viên này, cái không biết sốt ruột của Đức Cha Giám Đốc sẽ tạo điều kiện cho sự quay trở về, cho hành động sửa sai, và cho những cơ hội tốt để hoàn chỉnh cuộc sống và ơn gọi. Họ hãy học ở vị Giám Đốc của mình cái tính nhẫn nại, lòng phó thác và sự khiêm tốn. Và hãy nắm bắt lấy cơ hội để tự sửa sai và thăng tiến.

Riêng đối với những sinh viên chăm chỉ và tìm cầu học hỏi, việc ngài không biết sốt ruột kia chính là cơ hội tốt để họ tự cảm thấy tin tưởng, bình an và có thêm thời gian chuẩn bị cần thiết cho cuộc sống ơn gọi, cho thánh chức và đời sống linh mục. Họ cũng cần học hỏi ở nơi vị Giám Đốc của mình để biết sống và phó thác vào sự quan phòng của Thiên Chúa, và tin tưởng hơn vào tình yêu thương của Đức Cha Giám Đốc. Sống hiền hòa. Sống tinh tế. Sống dễ dãi với mọi người.

Tóm lại, có được một vị thầy, một người cha như vậy là điều hết sức hạnh phúc. Là một hồng ân lớn lao. Ai cũng biết rằng, đời sống ơn gọi, đời sống linh mục là một ân huệ nhưng cũng là một thử thách lớn lao. Không ai có thể hoàn tất ơn gọi và đời sống này một cách tốt đẹp, thánh thiện mà không có sự chuẩn bị kỹ lưỡng. Nhưng trường đời cũng như trường lớp “không thầy đố mày làm nên”. Và chính vì thế, có được vị tôn sư như vậy, không nên bỏ qua.

Bản thân tôi, qua những buổi tâm sự chia sẻ với Đức Cha Giám Đốc, tôi cũng đã học được nhiều ở nơi ngài. Tôi học những điều mà sách vở không dạy. Tôi học không phải bằng kinh điển trường lớp mà bằng kinh nghiệm của một vị thầy đáng kính. 

Mọi đóng góp và giúp đỡ Đại Chủng Viện, xin liên lạc trực tiếp với:

Đức Cha Chu Văn Minh
Giám Đốc Đại Chủng Viện Thánh Giuse Hànội
40 Nhà Chung, Hoàn Kiếm
Hànội - Việt Nam 
Dt: 043-828-9853


Trần Mỹ Duyệt

8 tính cách đảm bảo hôn nhân bền vững

Thứ Tư, 7 tháng 3, 2012


Nếu sở hữu những tính cách sau đây thì bạn có thể tự tin vào cuộc hôn nhân của mình. 

Bạn luôn băn khoăn rằng ''Một người đàn ông như thế nào thì phù hợp cho mình? Mình phải có những tính cách gì thì có thể níu giữ chân anh ấy? Nên thay đổi như thế nào để trở thành người phụ nữ phù hợp với mong muốn của đại đa số đàn ông?'' Nắm bắt được băn khoăn này của bạn, chúng tôi đã mời đến dây chuyên gia tâm lý Randi Gunther ở bệnh viện California để đưa ra những gợi ý cho bạn nhằm có một đời sống vợ chồng hạnh phúc. Những lời khuyên này đã được đăng trên tạp chí Psychology Today và được đông đảo công chúng ưa thích.


1. Biết chăm chút bản thân

Chúng tôi không nói rằng hình thức quyết định tất cả và cũng không khuyên bạn hãy là người chạy theo hình thức, nhưng một điều chắc chắn là, khi bạn có một diện mạo ưa nhìn và dễ coi, bạn sẽ tự tin trong cuộc sống, công việc… Và đặc biệt, trong tình yêu, đàn ông thường yêu bằng mắt nên rất dễ bị hớp hồn bởi những bóng hồng trẻ trung xinh đẹp. Do đó, nếu bạn không chăm chút cho hình thức của mình, chàng sẽ rất dễ so sánh bạn với những cô nàng mát mẻ ngoài đường, và như vậy, chắc chắn một điều là, lâu dần anh ấy sẽ thấy bạn thua kém và chán bạn.

2. Rộng rãi

Không cần thiết phải quá nhiều quà tặng đắt tiền hay cao sang gì, chỉ đơn giản là những món quà nhỏ thể hiện sự quan tâm và sự chăm sóc dành cho nhau, vì vậy, bạn hãy chú ý đến người ấy, hiều được mong muốn của chàng/nàng, từ đó lựa chọn những món quà dành cho ‘một nửa’. Một bí mật dành cho bạn là hãy tặng quà không nhân dịp gì cả, điều đó luôn mang lại sự bất ngờ và cảm động cho người ấy.
Hai vợ chồng phải cùng nhau thực hiện những mục tiêu trong cuộc sống (Ảnh minh họa)
2. Có mục tiêu

Yêu nhau không phải nhìn nhau mà là cùng nhau nhìn về một hướng. Khi hai người yêu nhau, cần phải có mục tiêu rõ ràng để cùng xác định mục tiêu trong tương lai. Tất nhiên, bạn có thể khác người ấy về sở thích, tính tình, gia đình, cách sống… và nó là những thứ bổ trợ để làm cho cả hai bù đắp và yêu thương nhau hơn. Tuy nhiên, khi yêu nhau, những điểm giống lại khiến cả hai hiểu nhau và trở thành một đôi tình nhân thắm thiết.

3. Lòng trắc ẩn, vị tha

Tình yêu không thể tránh những lúc mâu thuẫn, cãi vã… vì thế, nếu như bạn là một người cố chấp, lúc nào cũng nóng nảy, hay giận dỗi thì cuộc tình của bạn sẽ có ngày đi đến hồi kết. Đơn giản bởi sự tha thứ mới là chất kết dính và làm cho tình yêu lâu bền. Nếu như bạn biết vị tha và tha thứ đúng lúc, đồng thời biết ‘giáo huấn’ chàng phù hợp, thì chắc chắn, anh ấy sẽ nể phục và ngày càng yêu thương bạn.
Hãy có với nhau những giây phút hạnh phúc, sảng khoái (Ảnh minh họa)
4. Cởi mở, không thù dai

Cuộc sống đang thay đổi và vì thế bạn không nên quan điểm quá khe khắt về mọi thứ. Nhất là với những gì đã qua, bạn không nên thù dai, nhớ lâu, nó sẽ chỉ làm cho cuộc sống của hai người trở nên căng thẳng và áp lực. Hãy mở lòng mình cho thoải mái, với những gì người cũ gây ra cho bạn, hãy tha thứ để thấy tâm hồn nhẹ nhàng, than thản hơn. Những gì người mới có lỗi với bạn, nếu anh ấy đã biết nhận ra sai lầm thì hãy tha thứ và đừng bao giờ nhắc lại, bạn sẽ thấy cuộc đời thú vị và hạnh phúc hơn.

5. Vững vàng

Phẩm chất mà bạn không thể thiếu trong cuộc sống hôn nhân đó là tính vững vàng, nó giữ cho bạn biết cách để vượt qua mọi cám dỗ và hài lòng với những gì mình hiện có. Còn nếu bạn luôn dao động, ‘đứng núi này trông núi nọ’ thì tổ ấm của bạn sẽ rất có nguy cơ tan vỡ vì không người chồng nào chấp nhận được một người vợ không khi nào biết là ‘đủ’ như vậy.

6. Hài hước

Cuộc sống vốn đã nhiều căng thẳng áp lực, vì thế nụ cười sẽ giúp bạn xua tan mọi nỗi buồn, tính hài hước do đó là một điều không thể thiếu nếu như bạn muốn trở thành một người vợ được chàng yêu ý.Hãy vô tư,  cười nhiều và biết kể nhiều câu chuyện cười, nói chuyện một cách vui vẻ và hài hước sẽ khiến chàng thấy rằng bạn là một người thật thông minh và khéo léo. Người đàn ông nào cũng mong có những người vợ như vậy.

7. Cảm xúc mạnh mẽ

Tình yêu không thể thiếu tình dục, vì thế khi bạn yêu chàng, bạn cần phải thể hiện rõ cho anh ấy những ham muốn bản năng, chuyện khao khát nhau khi lên giường. Đó là chất xúc tác giữ gìn đời sống tình dục mặn nồng giữa hai người. Đừng bao giờ cố ‘giữ tiếng’ để là một cô nàng ngoan ngoãn, cổ điển và cứng đơ khi lên  giường, đàn ông thích làm tình với một ‘cave’ hơn là một giáo viên hiền ngoan.

8. Tự tin

Hãy luôn tự tin vào bản thân mình, đó là một bí quyết để thành công trong tình yêu. Hãy nghĩ rằng mình có đủ khả năng để giữ người ấy ở bên, cùng với đó là việc trau dồi khả năng nấu nướng, nội trợ, hiểu biết xã hội thì bạn cũng sẽ làm được việc mình muốn, đó la giữ chân người đàn ông ở bên cạnh mình.
Theo Eva