Hiển thị các bài đăng có nhãn Bài giảng. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Bài giảng. Hiển thị tất cả bài đăng

Kinh nghiệm về Thiên Chúa

Thứ Bảy, 15 tháng 3, 2014

Lm Gioan Phạm Quang Long, bài giảng Chúa nhật II mùa Chay

Trên con đường lên Giêrusalem, có câu chuyện Chúa hiển dung trên núi Taborê, ở đó Nguời bày tỏ vinh quang của mình cho môn đệ chiêm ngưỡng.

"Khi ấy, Chúa Giêsu đã gọi Phêrô, Giacôbê và Gioan là em ông này, và Người đưa các ông tới chỗ riêng biệt trên núi cao. Người biến hình trước mặt các ông: mặt Người chiếu sáng như mặt trời, áo Người trở nên trắng như tuyết" (Mt 17,1-2).

Người ta suy luận rằng Chúa Giêsu cho các môn đệ cảm nếm vinh quang của Nguời, hầu khuyến khích các ông vững vàng trong cuộc khổ nạn sắp đến. Dù vậy, thì vinh quang của núi Tabore cũng không giúp các ông trung thành với Thầy mình. Họ đã bỏ Chúa trong vườn Giệtsêmani. Phêrô, một trong ba môn đệ có mặt hôm đó, thậm chí còn chối Thầy ba lần.


Tôi thiết nghĩ câu chuyện trên núi Taborê là nơi các môn đệ được thị kiến, để biết Chúa mình như thế nào. Đó là kinh nghiệm về Thiên Chúa. Kiểu như khi bạn ăn một món nào thì bạn mới biết món đó. Những người chỉ đọc thực đơn hay làm bếp thi không biết được như thế.

Đạo Kitô là đạo kinh nghiệm, trong đó người tín hữu được mời gọi nếm cảm Đấng mình tin, chứ không phải tin theo một giáo thuyết. Đó là kinh nghiệm về Thiên Chúa hay kinh nghiệm gặp gỡ Chúa.

Một cuộc đời tín hữu trưởng thành, nói đúng hơn một người đạo đức thánh thiện là người có kinh nghiệm về Thiên Chúa. Ai đã có kinh nghiệm này rồi thì rất vui, đến mức có thể nói được như thánh Phêrô "Lạy Thầy, chúng con được ở đây thì tốt lắm." (Mt 17,4).

Ông Abraham đã có kinh nghiệm gặp gỡ Thiên Chúa. Thế là ông từ bỏ quê huơng, gia tộc của mình, lên đuờng đi theo tiếng gọi của Chúa.

"Khi ấy, Chúa phán cùng Abram rằng: "Ngươi hãy từ bỏ quê hương, họ hàng và nhà cửa cha ngươi mà đi đến xứ Ta chỉ cho" (St 12,1). Và "Abram liền ra đi, như lời Thiên Chúa phán dạy" (câu 4a).

Ông đã thực hiện một cuộc hành trình đầy mạo hiểm, và ông đã đuợc Thiên Chúa chúc phúc. Ông trở thành tổ phụ của những kẻ tin.

Thánh Phaolô đã trải qua kinh nghiệp gặp gỡ Chúa trên đường Damas. Kinh nghiệm đó giúp ngài dấn thân truyền giáo. Sau này, thánh nhân tuyên bố "Tôi biết tôi tin vào ai".

Sống đạo là nhắm đến cái lí tưởng này: đó là gặp gỡ Chúa trong đời sống hằng ngày, nhất là qua cầu nguyện và khi đương đầu với thử thách của cuộc sống. Ai đã có kinh nghiệm về Chúa rồi thì sẽ không bao giờ bỏ cuộc.

Lạy Chúa, Chúa đã dạy chúng con phải vâng nghe Con yêu dấu của Chúa, xin lấy lời hằng sống mà nuôi dưỡng đức tin của chúng con, nhờ vậy cặp mắt tâm hồn chúng con sẽ trong sáng để nhìn thấy vinh quang Chúa tỏ hiện trong cuộc đời chúng con.

Tân Phúc âm hóa là gì?

Thứ Tư, 21 tháng 11, 2012

Đức cha Phaolô Nguyễn Thái Hợp đã giải thích ý nghĩa của từ "tân Phúc âm hóa" trong bài giảng thánh lễ bế mạc kỳ tĩnh tâm thường niên lần thứ 7 của Gia đình Thánh Tâm cụm 4 của giáo phận Vinh chiều ngày 19/10/2012. Sau đây là nguyên văn bài giảng đó. Tựa đề là của ban biên tập.


Một sự trùng hợp rất ý nghĩa khi lần tĩnh tâm năm nay của Gia đình Thánh Tâm cụm 4 đã diễn ra trong bầu khí của Năm Đức Tin và vào thời điểm Thượng Hội đồng Giám mục Thế giới đang nhóm họp tại Roma về đề tài “Tân Phúc Âm Hóa để thông truyền đức tin Kitô giáo”. Có thể nói đây là một trong những chủ đề quan trọng được Đức cố Giáo hoàng Gioan Phaolo II khai triển trong các văn kiện, cũng như trong các chuyến viếng thăm mục vụ ở nhiều nơi trên thế giới, đặc biệt tại Mỹ châu Latinh, châu Phi và châu Âu.

Nhưng tân Phúc âhóa” là gì? Đâu là tầm quan trọng của nó trong Giáo Hội hôm nay? 

Về phương diện lịch sử, diễn ngữ “Tân Phúc Âm Hoá” có một xuất xứ khá rõ rệt. Trong chuyến viếng thăm mục vụ tại Ba Lan lần I, Đức Gioan Phaolô II đã dành ba ngày cuối cùng cho Tổng giáo phận Cracovie, nơi Ngài từng là Tổng Giám mục trước khi được bầu đảm nhận nhiệm vụ kế vị thánh Phêrô. Sáng Thứ bảy, ngày 9 tháng 6 năm 1979, ngài đến Mogila, một tu viện Xitô cổ kính, được xây dựng từ thế kỷ XIII, để gặp gỡ giới công nhân. Tu viện tọa lạc trên một sườn đồi, đối diện với Nowa Huta, một thành phố thợ thuyền Xã hội chủ nghĩa đầu tiên của Ba Lan, nơi sinh sống của khoảng 200.000 dân, đa số là công nhân trẻ.

Đối diện với thực trạng bi thảm của dân tộc Ba Lan, Đức Gioan Phaolô II yêu cầu phải trở về với truyền thống văn hóa dân tộc. Trong bài giảng lịch sử hôm đó cũng như một số bài diễn văn sau đó, hai từ “tân” và “tái phúc âm hoá” được sử dụng đồng thời và lẫn lộn. Một số ý kiến phản hồi đề nghị phân biệt “tân phúc-âm-hóa” với “tái phúc-âm-hóa”, bởi vì hạn từ “tái phúc-âm hóa” sẽ gây hiểu lầm là công cuộc rao giảng Tin Mừng trước đây thiếu sót, sai lạc hoặc không còn hiệu năng, cho nên phải xóa bàn làm lại tất cả và từ đầu. Có lẽ đề nghị này đã được Đức Gioan Phaolô II tiếp thu. Điều chắc chắn là chỉ ít lâu sau, trong các văn kiện chính thức người ta chỉ thấy diễn ngữ “tân phúc âm hoá”.

Đặc biệt nhất, ngỏ lời trước hội nghị các Giám-mục Mỹ châu La-tinh họp tại Port-au-Prince, Haiti, ngày 9 tháng 3 năm 1983, Đức Gioan Phaolô II xác quyết  rõ rệt quan niệm “tân phúc âm hoá” nói trên: “Việc kỷ niệm 500 năm loan báo Tin Mừng (tại Mỹ châu La-tinh) sẽ có một ý nghĩa tròn đầy nếu đi kèm với hành động dấn thân của quý chư huynh Giám mục, cùng với hàng linh mục và giáo dân; dấn thân, không phải để tái phúc-âm-hóa (re-evangelización), mà là tân phúc-âm-hóa (nueva evangelización). Mới trong sự nhiệt thành, trong phương pháp, trong lối diễn tả”.

Tài liệu làm việc của Thượng Hội đồng Giám mục Thế giới về đề tài “Tân Phúc âm hóa để thông truyền đức tin Kitô giáo” đã lấy lại nguyên văn định nghĩa trên. Ý nghĩa chữ “tân” hay “mới” ở đây không đề cập đến bản chất và nội dung của Tin Mừng, vì Lời Chúa hôm qua, hôm nay và mãi mãi vẫn bất biến, vẫn y nguyên, thiên thu vạn đại. Cái mới nói đây đúng hơn ám chỉ lòng nhiệt thành của các tín hữu trong hăng say dấn thân sống và loan báo Lời Chúa, cũng như trong việc sử dụng phương pháp, ngôn ngữ và cách thế diễn tả Tin Mừng thích hợp với nhu cầu thời đại và con người hôm nay.
Đức Giáo hoàng Biển Đức XVI đã nhận định sâu sắc những thách đố mà thời đại đa văn hóa, đa phức tôn giáo và toàn cầu hóa đang đặt ra cho sứ vụ loan báo Tin Mừng. Ngài nêu rõ sự phức tạp, chập chùng ánh sáng và bóng tối mà những biến chuyển thời đại cống hiến cho chúng ta: “Xét về một mặt, nhân loại đã được hưởng những lợi ích không thể phủ nhận từ những thay đổi này, và Hội Thánh cũng đã rút ra được từ đó những kích thích để làm chứng cho niềm hy vọng mình ấp ủ; nhưng mặt khác, đã có một sự mất mát đáng lo ngại trong ý thức về sự linh thánh, nó thậm chí chất vấn cả những nền tảng mà có thời được coi là không thể lay chuyển, như niềm tin vào Đấng Sáng Tạo và Quan Phòng, mạc khải về Đức Giêsu là Đấng Cứu Thế duy nhất, và một sự hiểu biết chung về các kinh nghiệm cơ bản của con người: đó là sự sinh ra, sự chết, đời sống gia đình, và sự qui chiếu về một luật đạo đức tự nhiên”.

Đối diện với những thay đổi sâu rộng về khoa học kỹ thuật, xã hội, văn hoá..., các cộng đoàn Kitô giáo một lần nữa cần hăng hái đứng lên, can đảm dấn thân, cố gắng tìm ra thời giờ, nghị lực, phương tiện, ngôn ngữ và kinh nghiệm tôn giáo mới ngõ hầu đem Chúa đến cho con người hôm nay. Trách nhiệm này giả thiết khả năng canh tân kinh nghiệm đức tin của các cộng đồng Kitô giáo. Nói rõ hơn, để có thể loan báo Tin Mừng cho người khác, trước hết chúng ta phải Tin Mừng hóa bản thân, gia đình và xã hội.

Về lại Linh địa Trại Gáo trong Năm Đức tin của Giáo hội, tất cả chúng ta được mời gọi nghiêm chỉnh nhìn lại bản thân, kiểm điểm lại cuộc đời, kiểm tra lại cách thức “giữ đạo” của chúng ta. Phải chăng cho đến nay chúng ta chỉ giữ đạo theo thói quen, nặng hình thức, vụ luật, thiếu gương lành, thiếu tình bác ái yêu thương. Vì vậy, cách “giữ đạo” của chúng ta chưa có tính thuyết phục và sức lan tỏa cho người khác.

Thư Mục vụ của Hội đồng Giám mục Việt Nam nhận định sâu sắc: “Tại Việt Nam, phần đông các tín hữu vẫn trung thành dự lễ Chúa nhật, kể cả ngày thường. Đa số các gia đình công giáo vẫn là cái nôi nuôi dưỡng và thông truyền đức tin cho con cái. Tuy nhiên, nơi một số người, việc giữ đạo chỉ theo tập tục và thói quen, chưa trở thành xác tín cá nhân và động lực cho những chọn lựa quan trọng trong đời sống. Nơi một số người khác, đời sống đức tin quá thiên về tình cảm, chỉ giới hạn vào một số thực hành nghi lễ và luân lý. Ngoài ra, do ảnh hưởng của thời đại đề cao lối sống vật chất và hưởng thụ, nhiều người trẻ công giáo ngày nay cảm thấy bị lung lạc trong đời sống đức tin, nhiều đôi vợ chồng trẻ không còn ý thức trách nhiệm thông truyền đức tin cho con cái”.

Trong Năm Đức Tin này, Hội đồng Giám mục thiết tha kêu gọi “mọi thành phần Dân Chúa tại Việt Nam củng cố đức tin của mình, hoán cải và đổi mới đời sống, trở về với Chúa là Đấng Cứu độ duy nhất của thế giới. Khi chúng ta tái khám phá niềm vui đức tin, chúng ta sẽ hăng say dấn thân cho công cuộc Tân Phúc Âm Hóa loan báo Tin Mừng cho 93% người Việt Nam chưa biết Chúa, đem tinh thần Phúc Âm thấm nhập mọi lãnh vực đời sống, góp phần xây dựng một xã hội lành mạnh theo những giá trị Tin Mừng và truyền thống văn hoá  của dân tộc”.

Đây là một cơ hội hồng phúc giúp chúng ý thức rằng một đức tin toàn diện phải bao gồm các mặt: tuyên xưng, cử hành, sống và làm chứng. Chính vì vậy, hơn bao giờ hết, chúng ta cần vun đắp giáo phận, giáo xứ, hội đoàn và nhất là gia đình vững mạnh. Thật vậy, “trong suốt lịch sử mấy trăm năm của Giáo Hội công giáo tại Việt Nam, gia đình vẫn là cái nôi thông truyền đức tin cho con cái, là trường dạy giáo lý đầu tiên cho thế hệ trẻ, là nơi đào tạo những Kitô hữu vững mạnh trong đức tin và gương mẫu trong đời sống đạo đức. Ngày nay, dù phải đối diện với nhiều lo toan trong cuộc sống, xin anh chị em cố gắng duy trì và phát huy truyền thống tốt đẹp này của gia đình công giáo. Hãy xây dựng gia đình mình thành ngôi nhà thờ phượng Chúa, trường dạy đức tin, và mái ấm tình thương. Đây là phương thế cụ thể và hữu hiệu nhất để anh chị em góp phần vào công cuộc Tân Phúc Âm Hóa mà Chúa Giêsu đã trao phó cho Giáo Hội và từng người chúng ta”.

Nếu sứ điệp trên được gửi đến tất cả các gia đình Công giáo, thì chắc chắn nó sẽ mang một ý nghĩa đặc biệt cho Gia đình Thánh Tâm nói riêng. Thiết tưởng dịp tĩnh tâm này là cơ hội tốt để các thành viên Gia đình Thánh Tâm nhìn lại mối tương quan của mình đối với Chúa và với anh chị em đồng loại. Chúng ta chỉ khư khư giữ bằng được một số lễ nghi tập tục hay cố gắng sống và loan báo Tin Mừng? Ơn gọi làm môn đệ Đức Kitô đòi hỏi chúng ta phải sống tốt và gương mẫu hơn người khác, thì phải chăng mỗi thành viên của Gia đình Thánh Tâm có nhiệm vụ sống tốt hơn nữa. Chính vì vậy, không thể chấp nhận hiện tượng các thành viên xuống cấp, gây gương mù và xáo trộn trong cộng đồng. Hơn ai hết, phải chăng các thành viên Gia đình Thánh Tâm phải hăng say loan báo Tin Mừng cho người chưa biết Chúa, với nhiệt huyết, phương pháp và ngôn ngữ mới?

Nguyện xin Thiên Chúa, nhờ lời bầu cử của Đức Maria, Đấng được chúc phúc vì đã tin và các Thánh Tử Đạo Việt Nam, chúc lành cho toàn thể giáo phận Vinh, cũng như các thành viên của Gia Đình Thánh Tâm hiện diện cũng như vắng mặt.

Giám mục Phaolô Nguyễn Thái Hợp

Lời tạ ơn hướng về cội nguồn

Thứ Hai, 19 tháng 11, 2012


Bài giảng của Lm Phạm Quang Long nhân dịp khánh thánh nhà thờ Hòa Ninh 7/2007

Có một người mới qua đời, được vào thiên đàng và gặp thánh Phêrô. Thánh nhân dẫn ông đi vòng quanh thiên đàng. Hai người đi bên nhau trong một khu nhà rộng lớn, đầy các thiên thần. Thánh Phêrô dừng lại trước căn phòng đầu tiên và nói: “Đây là căn phòng Tiếp nhận. Tất cả mọi lời cầu nguyện cùng Thiên Chúa được tiếp nhận tại đây”. Ông ta nhìn vào văn phòng và thấy vô số thiên thần hết sức bận rộn, phân chia các loại lời cầu được viết trên rất nhiều cuộn giấy rộng lớn từ mọi dân trên trái đất.


Họ đi tiếp dến văn phòng thứ hai, và thánh Phêrô nói: “Đây là phòng Sắp xếp và Chuyển giao. Mọi ân sủng và phúc lành được sắp xếp và chuyển giao xuống trần gian cho những người cầu xin.” Ông cũng thấy quá nhiều thiên thần bận rộn, bởi vì quá nhiều phúc lành được gửi xuống trần gian.

Cuối cùng ông dừng lại ở góc xa khu nhà. Và thật là ngạc nhiên, ông chỉ thấy một thiên thần nhàn rổi ngồi đó không có việc gì cả. Thánh Phêrô nói với ông: “Đây là văn phòng Tri ân”. Ông nói: “Sao lạ lùng quá, ở đây không có việc gì cả?” Và thánh nhân trả lời: “Đó quả thật là một điều đáng buồn! Sau khi nhận được ơn như lời cầu xin, rất ít người gửi lên lời cám ơn”. Ông hỏi: “Vậy thì làm sao để cám ơn Chúa?” Thánh Phêrô trả lời: Đơn giản  thôi, chỉ cần nói “Tạ ơn Chúa”.

Anh chị em thân mến, hôm nay chúng ta tụ họp trong nhà thờ này để cử hành thánh lễ, chính là hy tế tạ ơn. Thánh lễ, theo nguyên ngữ Hylap là Eucharistia, có nghĩa là nghi thức tạ ơn. Ý nghĩa này rất rõ ràng trong các bài đọc hôm nay:

- Trong bài thứ 1: Melkisede hay tin Abraham chiến thắng thì đã “chúc tụng Thiên Chúa”. Chúc tụng là một cách tạ ơn. Khi Abraham nộp cho Melkisede, tư tế của Chúa 1/10 chiến lợi phẩm cũng là để bày tỏ tâm tình tạ ơn.


(Về điều này, xin mở ngoặc, mỗi người chúng ta cũng tự hỏi mình có dâng cho Chúa 1/10 chiến lợi phẩm, nghĩa là lợi tức của chúng ta hay không? Hằng tuần khi dự lễ anh chị em chúng ta có dành một ít đồng bỏ vào nhà thờ hay không? Trong cuốn sách Giáo lý toát yếu của dtc Benedicto 16 mới phát hành vừa qua, kinh các điều răn của Hội thánh nay được rút gọn thành 5 điều, và điều thứ 5 ghi là phải đóng góp của cải để xây dựng Giáo hộiNhư vậy nếu không đóng góp của cải để xây dựng Giáo hội là chúng ta có lỗi. Không biết vừa rồi khi đọc kinh thú nhận đầu lễ, có ai ý thức mình có lỗi đó không. Nếu không thì vẫn chưa muộn, từ nay mỗi lần đi lễ, anh chị em hãy dành 1000 đồng, và tập cho con cái anh chị em ý thức đóng góp cho nhà thờ. Đóng góp vào nhà thờ cũng là một cách để tạ ơn Chúa, vì Chúa đã ban cho ta có nghề nghiệp và ăn ra làm được.)

- Ở bài đọc thứ 2, thánh Phaolo tường thuật việc Chúa Giêsu lập phép Thánh Thể, khi đó Ngài cũng cầm lấy bánh và tạ ơn.

- Còn trong bài Tin mừng, khi làm phép lạ hóa bánh ra nhiều, là hình ảnh tiên trưng của bí tích Thánh Thể, Chúa cũng cầm lấy 5 chiếc bánh  và 2 con cá, ngước mắt lên trời, dâng lời chúc tụng, chúc tụng có nghĩa là tạ ơn.

Chúng ta đọc được lời tạ ơn long trọng nhất trong các Kinh nguyện Thánh thể đọc trong thánh lễ hằng ngày. (Mời anh chi em nghe lại Kinh nguyện Thánh thể IV.)

Đối với cộng đoàn Hòa Ninh, hôm trước chúng ta vừa long trọng cử hành lễ tạ ơn khánh thành nhà thờ. Giờ đây được cùng nhau dâng lễ trong ngôi nhà thờ tuyệt vời như thế này, chúng ta vui mừng tạ ơn Chúa, cám ơn các ân nhân xa gần, cám ơn tất cả những ai đã đóng góp công của xây dựng nên nhà thờ này. Rất nhiều người, rất nhiều ân nhân, tôi xin phép không phải nhắc lại vì đã được kể rồi.

Tạ ơn Trời, cảm ơn đời, cảm ơn những người đi dự lễ, vì nếu không có họ, cuộc lễ đã không được như thế.

Lời tạ ơn hướng về cội nguồn con người, văn hóa, lịch sử, địa lý và tôn giáo của làng Hòa Ninh, mà Thiên Chúa đã quan phòng tiền định và các bậc tiền nhân của chúng ra đã dày công gầy dựng, cho có được như ngày hôm nay. Mời anh chị em chúng ta thử ôn lại vài đoạn thi ca kể về làng Hòa Ninh:

Hòa Ninh là đất bằng yên
Xem trong phong thổ hai bên đất bồi.
Nhìn phong cảnh hẵn hoi
có địa đầu chung tú
có sông dài bến đậu
trên lập chợ bán buôn
nhìn tây ngạn như tuôn
các lai kiều nhất thống.
Tuy điền thiểu đinh đa,
tiếng Hòa Ninh trù phú
dân khương vật phụ
xem phong cảnh hữu tình.

Đó là một đoạn trích trong vè nhà thờ 1922 của cụ Trương Sọi.

Còn đoạn khởi đầu vè Binh Hỏa có ghi:

Hòa Ninh là đất bằng yên
trên hòa dưới thuận
ước thiên niên thọ trường
nghĩ: phong thổ nhà vương
trong huyện này có một.

Đã dân thuần thói tốt
lại nhà đủ người no
ơn Chúa phù hộ cho
được trăm đường vui vẻ.

Giáo lương cùng sức khỏe
việc làng nước tương yên
ca nhị trạch nhị điền
đành an cư lạc nghiệp.

Hay khi nói về tình lương giáo Hòa Ninh, tác giả Nguyễn Anh Tài, một người bên lương, viết như thế này:

Hòa Ninh  xôn xao như cô gái dậy thì
có mái đình dỏng dạc uy nghi
bên giáo ngự thánh đường lồng lộng.

Cày cuốc giáo lương chung đồng ruộng
Khoai mùa về, bột xé nghẹn cả đôi bên
Nước ngọt quanh năm chung giếng đầu làng
Chuôn giữ cá, hạn về, chung nhau tát.

Ngày mùa đông, chung che tơi bên giáo
Nắng vàng mùa, chung nón lá bên lương
Áo Đức Bà, tràng hạt ríu rít trước thánh đường
Có thợ bạc bên lương mài dũa.

Những lớp con làng
chung sân trường, chung thầy giáo
chung phập phồng, hỏng đậu những mùa thi.

Đạo Hòa Ninh mấy chục năm ni
thờ Chúa, có nhiều cha lên cung thánh,
có bà phước trắng tinh màu từ thiện,
có ông già sùng đạo Vatican.

Theo thống kê chưa đầy đủ, Hòa Ninh đã cống hiến cho Giáo Hội 53 nữ tu, 10 nam tu sĩ, 5 thầy đại chủng sinh, 51 linh mục, mà người thứ 51 đang nói với cộng đoàn đây. Không biết tự bao giờ, trong dân gian Hòa Ninh có câu ca dao: 'Đạo Hòa Ninh như đinh đóng cột'; hay 'Cam Xã Đoài, khoai Mỹ Dụ, cụ Hòa Ninh'. Và Chúa quan phòng thế nào đó mà bây giờ một người Hòa Ninh đang coi xứ Mỹ Dụ.

Thật sự thì bây giờ Hòa Ninh đã mai một rồi, về phần đời cụng như phần đạo. Nhìn lại thì bây giờ ứng nghiệm câu ca dao rằng:

Đi chợ xi nựa Hòa Ninh/
lưỡng long ngươi đuổi uổng tình trời cho/
Từ đây ngươi phải chăm lo/
Cày su, cuốc bẩm, ấm no tháng ngày.

Hay 
Gió đập cơn kiên
gió thổi cơn kiên
anh mi về bên đạo
tổ tiên mi ai thờ.

- Gió đập cơn cà/
gió thổi cơn cà/
o mi về bên ngoại/
bộ áo đức bà ai đeo?

Hiện nay thì có nhiều o về bên ngoại, áo Đức Bà không ai đeo, nhiều o Hòa Ninh dễ dàng xem đạo Chúa không bằng đạo chồng!

Xin anh chị em cầu nguyện cho con cháu Hòa Ninh chúng tôi với. Chỉ mong được như ngày xửa ngày xưa:

Hòa Ninh quê tôi xứ đạo yên vui
giữa 2 dòng sông chảy
sạu nếp khoai tây
ruộng vườn san sát, lúa ngát xóm làng…
Nhìn chợ Mới đôông vui
thêm nhớ lại ngày xưa sum họp
đường quê quăn quắt bờ lau, buij hóp…
câu kinh tiếng hát, những buổi chiều tà.
Ai về Hòa Ninh khoai vàng sạu trắng
đất nhiều đời văn vật tổ tiên
đã dâng cho Giáo Hội những đứa con hiền
hãy làm rạng rỡ
hỡi những lứa tuổi xanh!

Thưa cộng đoàn! Không chỉ riêng bà con người Hòa Ninh, mà tất cả anh chị em đang hiện diện nơi đây đều có cơ hội để nói lên lời “Tạ ơn Chúa”. Tạ ơn Chúa vì muôn ơn lành Chúa ban: sự sống, ơn đức tin, lời hứa được thừa hưởng hạnh phúc vĩnh cữu mai hậu, như chúng ta vẫn thường đọc trong kinh cám ơn sáng và chiều; tạ ơn Chúa vì sức khỏe, con cái, gia đình, và những tiện nghi trong đời sống hằng ngày.

Nếu bạn có thức ăn trong tủ lạnh, bạn được ăn mặc tử tế, bạn có một mái nhà và một nơi nghỉ ngơi… thì bạn giàu có hơn 60% nhân loại.

Nếu bạn có tài khoản trong ngân hàng hay có tiền trong ví và có một ít của để dành, thì bạn thuộc vào số 35% người giàu trên thế giới.

Nếu sáng nay bạn thức dậy mạnh khoẻ, bạn may mắn hơn 1 triệu người không thể sống được đến tuần sau.

Nếu bạn chưa từng trải qua nguy hiểm chiến tranh, sự cô đơn ở trong nhà tù, thì bạn hạnh phúc hơn 500 triệu người trên thế giới. Nói đến sự cô đơn trong nhà tù tôi chợt nhớ đến anh bạn trẻ đã ngộ sát cán bộ xã Quảng Phúc …

Nếu bạn có thể đi lễ ở nhà thờ và không sợ hãi về ngày tận thế, không sợ bắt bớ, kết án hay cái chết … bạn may mắn hơn 1 tỷ người trên thế giới.

Nếu cha mẹ bạn còn sống và vẫn ở với nhau, hãy nhớ rằng những người có được như bạn thật là hiếm.

Nếu bạn đọc được những dòng chữ này, bạn may mắn gấp đôi vì còn có ai đó nghĩ đến bạn, hơn nữa bạn may mắn hơn 2 tỉ người mù chữ trên thế giới.

Chúc anh chị em một ngày lễ tốt lành! Hãy đếm những phúc lành, và chuyển thông điệp này cho người khác để nhắc nhớ rằng họ may mắn biết bao! 

Bài giảng lễ Các thánh Tử đạo VN của DHY Ivan Dias

Thứ Năm, 15 tháng 11, 2012

Bài giảng của ĐHY Ivan Dias tại Nhà thờ chính tòa Hà Nội 7-1-2011

“Ngợi khen Chúa Giêsu Kitô”

“Tôi thân ái kính chào tất cả anh chị em”,

1. Trên đường về Rôma, sau khi đã chủ tọa, với tư cách Đặc sứ Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI, đại lễ bế mạc Năm Thánh tại Việt Nam, kỷ niệm 350 năm thành lập hai địa phận tông tòa đầu tiên Đàng Trong và Đàng Ngoài và 50 năm thành lập Hàng giáo phẩm công giáo tại Việt Nam, tôi vui mừng nhận lời mời của Đức Tổng Giám mục quí mến của anh chị em, Đức Cha Phêrô Nguyễn Văn Nhơn, đến thăm giáo phận và dâng thánh lễ tại nhà thờ chính tòa hôm nay để kính nhớ 117 thánh Tử đạo Việt Nam. Tôi rất vui mừng cầu nguyện với anh chị em, cho anh chị em, theo các ý chỉ của anh chị em và cho Tổng giáo phận Hà Nội. Chúng ta sẽ cùng cầu xin các thánh tử đạo để các ngài cầu bầu cùng Chúa cho chúng ta.

Tôi kính chào rất thân ái anh em Giám mục trong giáo tỉnh Hà Nội.

Kính thưa Đức Tổng Giám mục Hà Nội, tôi chân thành cám ơn Đức Tổng về cử chỉ tế nhị mời chúng tôi, như dấu chỉ huynh đệ và hiệp thông và những lời đón tiếp đầy quí mến của Đức Tổng.


2. Anh chị em thân mến, tôi được vinh dự mang đến anh chị em lời chào thăm nồng nhiệt nhất, tâm tình hiền phụ và Phép lành Tòa Thánh của Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI, mà tôi sẽ ban cho anh chị em cuối Thánh Lễ cùng với các giám mục hiện diện.

“Đức Thánh Cha yêu mến anh chị em”.
“Đức Thánh Cha chúc lành cho anh chị em”.

Xin anh chị em hãy tin chắc rằng anh chị em luôn ở trong tâm hồn và trong lời cầu nguyện của Đức Thánh Cha. Và tôi, với tư cách là Tổng Trưởng Bộ Truyền Giáo, hằng ngày tôi vẫn gần gũi anh chị em trong lời cầu nguyện và quan tâm đến đời sống, cũng như những thách đố và ưu tư của Giáo hội tại Việt Nam.

3. Từ nơi đây, tôi thân ái gửi lời chào huynh đệ đến Đức Tổng Giám mục Giuse Ngô Quang Kiệt, cựu mục tử của Giáo hội địa phương này. Tôi rất vui mừng đã chào thăm vắn tắt ngài trong thời gian tôi ở Việt Nam. Đức Thánh Cha đã chấp nhận với lòng kính trọng quyết định từ nhiệm một cách tự do và không bị áp lực nào của Đức Tổng Giuse, để ngài vào một đan viện hiến dâng mình cho đời cầu nguyện. Tôi thành thật cám ơn ngài về sự phục vụ ân cần và lâu dài mà ngài đã dành cho Giáo hội tại Việt Nam. Chúng ta cùng đồng hành với ngài bằng lời cầu nguyện và cầu chúc ngài sức khỏe dồi dào và phúc lành của Chúa.

4. Theo lịch phụng vụ của Giáo hội công giáo toàn cầu ghi ngày 24 tháng 11 là lễ nhớ bắt buộc kính “Thánh Anrê Dũng Lạc, linh mục và các bạn tử đạo”. Chúng tôi cảm động nhớ đến Thánh Anrê Dũng Lạc là linh mục Hà Nội, gốc Bắc Ninh. Ngài sinh ra trong một gia đình khiêm hạ, đơn nghèo và ngoại giáo. Khi còn bé gia đình phải rời bỏ làng quê để đến Hà Nội này tìm một đời sống tốt hơn. Chính nơi đây cậu bé gặp một Thầy giảng, được thầy thương đưa về Vĩnh Trị, dạy giáo lý vỡ lòng và rửa tội cho. Sau đó Anrê Dũng Lạc học chữ Hán và tiếng Latinh, được trao nhiệm vụ dạy giáo lý và sau cùng chịu chức linh mục ngày 15 tháng 3 năm 1832. Trong khi thi hành sứ vụ mục tử, cha bị quan bắt, bị đánh đập tàn nhẫn, bị ép buộc phải bước qua thánh giá như dấu chỉ bỏ đạo, nhưng cha can đảm từ chối. Trái lại, cha ôm thánh giá và hôn cách cung kính. Ngày 21 tháng 12 năm 1839, cha thể hiện một dấu chứng tuyệt vời về tình yêu của cha đối với Chúa Kitô và Giáo hội là chịu chết chém đầu tại Cầu Giấy (Hà Nội).

5. Từ trình thuật đơn sơ và cảm động trên đây về đời sống của Thánh Anrê Dũng Lạc, tôi muốn rút ra hai bài học.


Bài học thứ nhất liên quan đến sự tiếp đón mà các người công giáo Hà Nội đầu tiên đã dành cho những người không công giáo khi họ rời bỏ làng quê đến Hà Nội này, tìm công ăn việc làm và đời sống khá hơn. Sự kiện này khuyến khích chúng ta tiếp đón nhiều anh chị em không công giáo sống bên cạnh chúng ta, trong Thủ đô này.

Bài học thứ hai liên quan đến việc trung thành chu toàn bổn phận mà Chúa giao phó cho mỗi người, như là cha mẹ gia đình, như là con cái trong gia đình, như là sinh viên, viên chức, thợ thuyền. Khi nhìn đời sống Thánh Anrê Dũng Lạc, chúng ta có thể nhận thấy sự trung tín và sự chính xác qua đó thánh nhân chu toàn bổn phận mục tử, làm chứng đức tin sâu xa và tình yêu tuyệt đối cho Chúa Kitô và cho Giáo Hội.

Anh chị em thân mến, ở bất cứ nơi đâu chúng ta cũng phải chu toàn cách hoàn hảo bổn phận công dân và bổn phận tín hữu của mình, không sợ làm chứng cho tình yêu và lòng trung thành đối với Chúa Kitô và Phúc âm của Người, cho đến hiến dâng mạng sống, cho đến đổ máu như Thánh Anrê Dũng Lạc và các bạn Tử đạo.

6. Dưới sự hướng dẫn của các Mục tử của anh chị em, tôi khuyến khích anh chị em lớn lên trong tình yêu Chúa Kitô, và hoạt động không ngừng cho việc truyền bá đức tin và sự thăng tiến nhân bản và công dân trong xã hội mà chúng ta đang sống. Sự trưởng thành này sẽ giúp chúng ta vượt thắng những hàng rào ngăn cách địa phương, từ bỏ ích kỷ để làm thành một đại gia đình Giáo Hội. Chính gia đình này được Đức Thánh Cha cùng với các Giám mục tận tụy hướng dẫn cho lợi ích thiêng của mỗi người chúng ta.

7. Sau cùng, tôi hết lòng cầu chúc anh chị em một Năm mới hạnh phúc, dồi dào phúc lành của Chúa và Tết vui tươi mà anh chị em sẽ mừng trong vài tuần sắp tới (03/02/2011).

Xin Chúa Giêsu Kitô và Đức Mẹ Maria chúc lành cho anh chị em. Amen. 

Lời kinh danh Chúa Giêsu

Thứ Ba, 5 tháng 6, 2012

Nếu có ai hỏi tôi về cách tôi cầu nguyện, câu trả lời đơn giản là: Tôi đọc lời kinh Giêsu. Những ai đã từng nghe nói về câu chuyện của người hành hương Nga sẽ hiểu điều tôi muốn nói. Lời kinh đó bao gồm việc đọc đi đọc lại câu: “Lạy Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi”. Tôi đã cầu nguyện như thế suốt 40 năm qua, và đã trở nên quá quen thuộc đến đỗi lời kinh tự động phát ra những khi tôi không bận rộn hay không suy nghĩ gì. Thỉnh thoảng, việc này hầu như máy móc, chỉ lặp đi lặp lại, nhưng có lúc nó huy động tất cả sức lực và trở nên mãnh liệt vô cùng.

Tôi hiểu lời cầu này theo cách của riêng tôi. Khi đọc “Lạy Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa”, tôi ôm trọn cả trời và đất vừa biểu lộ chính Người cho toàn thể nhân loại theo nhiều cách, dưới nhiều tên gọi và hình thức khác nhau. Tôi nhận thức rằng Ngôi Lời soi sáng mọi người trong thế gian, cho dẫu con người không nhận ra Ngôi Lời, Ngôi Lời vẫn hiện diện trong từng người, nơi thẳm sâu linh hồn họ. Vượt ra khỏi phạm vi của ngôn từ và tư tưởng, của dấu hiệu và biểu tượng, Ngôi Lời được nói một cách thầm lặng trong mọi tâm hồn, mọi nơi và mọi lúc. Con người có thể hoàn toàn không nhận ra hay cố ý phớt lờ, nhưng bất cứ ở đâu hay bất cứ lúc nào, nếu có ai nghe theo tiếng gọi của sự thật, tình yêu và lòng tốt, tiếng gọi của những đòi hỏi công lý, quan tâm đến tha nhân, hay chăm sóc những người thiếu thốn, thì họ đang đáp lại tiếng gọi của Ngôi Lời. Cũng vậy, khi có ai đi tìm chân thiện mỹ trong khoa học, triết học, nghệ thuật hay thi ca, thì họ đang làm theo sự linh hứng của Ngôi Lời.

Tôi tin rằng Ngôi Lời đã làm người nơi Ðức Giêsu Nadarét; trong Người chúng ta có thể thấy hình thức người của Ngôi Lời, với Người chúng ta có thể cầu nguyện và nhờ Người chúng ta có được mối tương giao yêu thương. Tuy nhiên, tôi nghĩ rằng Người tỏ mình ra cho chúng ta bằng những danh xưng và hình thức khác nhau. Ðiều có thể tính đếm được thì lại quá ít so với điều không thể tính đếm, đó là lời đáp trả trước huyền nhiệm được dấu kín trong mỗi tâm hồn. Huyền nhiệm hiện diện nơi mỗi người một khác và chờ đợi câu trả lời của chúng ta qua đức tin, đức cậy và lòng mến.

Khi đọc “xin thương xót con là kẻ tội lỗi”, tôi tự liên kết chính mình với tất cả nhân loại từ khởi nguyên của thế giới, những kẻ đã kinh nghiệm về sự xa lìa Thiên Chúa và chân lý vĩnh hằng. Là người, tôi nhận thức rằng tất cả chúng ta đều xa lìa Thiên Chúa, xa lìa cội nguồn của mình. Chúng ta vừa lưu lạc trong thế giới của bóng mờ, vừa lẫn lộn giữa dáng dấp bên ngoài của con người và sự vật với thực tại của nó. Nhưng sự vật thường xuyên gây áp lực đòi chúng ta phải thoát ra khỏi bóng mờ để chạm mặt với thực tại, với sự thật và ý nghĩa nội tại của cuộc sống chúng ta, để tìm gặp Thiên Chúa hay bất cứ danh xưng nào mà chúng ta gọi huyền nhiệm đang bao phủ chúng ta.

Vì thế, tôi đọc lời kinh Giêsu để cầu xin được giải phóng khỏi ảo ảnh của thế giới này, khỏi vô vàn cảnh hư ảo và phỉnh lừa đang bao vây quanh tôi. Tôi tìm thấy nơi Giêsu danh xưng mở rộng lòng trí tôi. Tôi xác tín rằng mỗi người chúng ta đều có ngọn đèn và người hướng đẫn bên trong sẽ đưa dẫn chúng ta vượt qua bóng mờ và ảo ảnh đang vây bọc chính mình, và mở rộng lòng trí chúng ta trước chân lý. Ðiều đó có thể xảy ra từng ngày, từng ngày một, qua nghệ thuật, triết học và khoa học, hay thông thường qua các biến cố cũng như cuộc gặp gỡ giữa những con người với nhau. Bản thân tôi nghiệm thấy rằng nguyện ngắm sớm chiều là phương cách trực tiếp và tối ưu nhất để liên lạc với thực tại. Trong nguyện ngắm tôi cố gắng vượt qua thế giới giác quan bên ngoài, thế giới tư tưởng bên trong, để lắng nghe tiếng nói từ bên trong vốn là tiếng vọng của Ngôi Lời đến từ thinh lặng, an tịnh, khi mọi hoạt động của cơ thể và tâm trí ngừng nghỉ. Nhờ thế, trong thinh lặng tôi cảm nghiệm sự hiện diện của Thiên Chúa, và cố gắng giữ nguyên cảm nghiệm đó suốt ngày. Trên xe buýt, tàu hỏa hay trên máy bay, trong công việc, nghiên cứu hay khi liên lạc chuyện trò với người khác, tôi cố gắng nhận ra sự hiện diện này trong mọi người, nơi mỗi vật. Và lời kinh Giêsu giữ tôi trong sự hiện diện đó.

Vì thế, đối với tôi cầu nguyện là thể nghiệm sự hiện diện của Thiên Chúa trong mọi tình huống: ồn ào, xáo trộn, bệnh tật, đớn đau và chết chóc, cũng như bình an, vui mừng, thân thiện, cả trong cầu nguyện và thinh lặng sự hiện diện của người luôn luôn có đó. Với tôi, lời kinh Giêsu là phương thế để sống trong sự hiện diện của Thiên Chúa.

Tôi nhận thấy thật là thuận lợi khi tuân thủ 4 bước của truyền thống cầu nguyện thời Trung cổ: đọc sách, suy gẫm, cầu nguyện và chiêm ngưỡng. Hầu hết mọi người cần chuẩn bị cầu nguyện bằng đọc sách. Ðọc Kinh thánh là cách truyền thống, nhưng không phải để tìm kiếm thông tin, mà với sự chú ý lắng nghe, nhằm thưởng thức như khi chúng ta đã đọc thơ. Vì lý do này mà tôi thích bản Kinh thánh duyệt lại (The Revised Verion of the Bible), là bản bảo tồn được truyền thống phong phú, giàu chất thơ của Anh ngữ.

Tiếp theo sau đọc sách là suy gẫm, nhằm ôn lại những điều đã đọc, đào sâu ý nghĩa và khắc ghi trong lòng; như Ðức Maria hằng ghi nhớ tất cả những điều ấy trong lòng. Ðó là suy gẫm theo truyền thống: vừa khám phá ý nghĩa đạo đức và biểu tượng của bản văn, vừa đem ra áp dụng trong đời sống riêng của mình. Ý nghĩa của biểu tượng vượt ra ngoài ngôn từ và thiết thân đến đời sống của cá nhân, của Giáo hội và của thế giới. Sẽ là một thiếu sót lớn lao khi mà ngày nay chúng ta có được sự hiểu biết sâu xa về nghĩa văn tự, lại lãng quên ý nghĩa phong phú và thâm thúy của biểu tượng muốn hướng chúng ta đến chân lý tối hậu vốn là điều mà Kinh thánh biểu lộ.

Kế tiếp là cầu nguyện (bằng lời). Sự hiểu biết về ý nghĩa sâu xa của bản văn tùy thuộc vào khả năng tâm linh của chúng ta, và điều này có được nhờ cầu nguyện. Cầu nguyện là mở rộng con tim và tâm trí cho Thiên Chúa, tức là vượt ra khỏi lý trí để tự cởi mở trước thực tại siêu nhiên, điều mà mọi ngôn từ và mọi tư tưởng đang nhắm đến. Ðiều này đòi hỏi một sự hiến thân - phó thác. Chừng nào mà chúng ta còn ở trong tầm mức của lý trí, thì chúng ta sẽ bị chi phối bởi cái tôi, tính tự lập và lý trí của mình. Chúng ta có thể khai thác mọi thứ hỗ trợ cho việc cầu nguyện như sách chú giải và những hướng dẫn thiêng liêng, nhưng chừng nào mà cái tôi còn ở vị thế chỉ huy, thì chúng ta vẫn còn bị giam hãm bởi lý trí với những quan niệm và phán đoán của nó. Chỉ khi nào chúng ta từ bỏ cái tôi, bản ngã độc lập của mình, và trở về với Thiên Chúa - Ðấng Chí Linh, thì chúng ta mới có thể đón nhận được ánh sáng, là điều mà chúng ta cần để hiểu được ý nghĩa sâu xa của Kinh thánh. Ðó là tiến trình đi từ cầu nguyện đến sự thâm hiểu, từ khái niệm mông lung đến sự nắm bắt mầu nhiệm bằng trực giác.

Ðến đây, chúng ta chuyển qua giai đoạn chiêm ngưỡng. Chiêm ngưỡng là đích điểm của đời sống Kitô hữu. Ðó chính là sự hiểu biết bằng tình yêu. Thánh Phaolô thường cầu nguyện cho môn đệ người có được kiến thức và am hiểu huyền nhiệm Ðức Kitô. Huyền nhiệm Ðức Kitô là chân lý tối hậu, là thực tại mà con người khao khát. Và huyền nhiệm này được cảm nhận bằng tình yêu. Yêu là ra khỏi chính mình, là hiến mình, là để cho chân lý và thực tại điều khiển mình. Yêu thì không giới hạn nơi một con người hay một vật thể nào, nhưng vươn ra tới vô tận và vĩnh hằng. Ðó là chiêm ngưỡng. Chiêm ngưỡng không phải là thành tựu đạt được do chúng ta, mà là ơn ban cho chúng ta khi chúng ta ra đi. Chúng ta cần phải từ bỏ mọi thứ : ngôn từ, ý niệm, hy vọng, lo sợ hay tất cả sự quyến luyến với chính mình hay bất cứ tạo vật trần thế nào, và để cho huyền nhiệm thiên linh chiếm hữu cuộc đời chúng ta. Tình trạng này giống như sự chết hay một dạng của nó. Ðó là cuộc chạm trán với bóng tối, vực thẳm và trống rỗng. Ðối đầu với trống rỗng, như nhà thần bí Augustine Baker là một đan sĩ người Anh đã nói: "Ðó là cuộc hội ngộ giữa hư không với Hư Không." (It is the union of the nothing with the Nothing).

Ðây là mặt trái của chiêm ngưỡng. Mặt tích cực tất nhiên là điều tương phản: thành đạt, viên mãn, khôn ngoan, hạnh phúc bất diệt; đấy cũng là câu trả lời cho mọi vấn đề, là sự an bình trổi vượt mọi hiểu biết của trí tuệ, là niềm hoan lạc của sự sung mãn tình yêu. Thánh Phaolô đã tóm tắt kinh nghiệm đó trong thư gửi giáo đoàn Êphêsô, như một thí dụ điển hình nhất của sự hiểu biết Kitô giáo:

"Tôi quỳ gối trước mặt Chúa Cha, là nguồn gốc mọi gia tộc trên trời dưới đất. Tôi cầu xin Chúa Cha, thể theo sự phong phú của Người là Ðấng vinh hiển ban cho anh em được củng cố mạnh mẽ nhờ Thần Khí của Người, để con người nội tâm nơi anh em được vững vàng. Xin cho anh em, nhờ lòng tin, được Ðức Kitô ngự trong tâm hồn; xin cho anh em được bén rẽ sâu và xây dựng vững chắc trên đức ái, để cùng toàn thể các thánh, anh em đủ sức thấu hiểu mọi kích thước dài rộng cao sâu, và nhận biết tình yêu của Ðức Kitô, là tình yêu vượt xa sự hiểu biết. Như vậy anh em sẽ được đầy tràn tất cả sự viên mãn của Thiên Chúa."

Bede Griffths, In Jesus' Name, Monos No 9-94
Lm Phạm Quang Long dịch
với sự cho phép của Tổng Biên Tập báo Monos

Suy niệm về sự chết


Không có gì giúp ta tìm hiểu ý nghĩa cuộc sống cho bằng cái chết.

Tưởng tượng rằng tôi đang dự đám tang của chính mình. Tôi nhìn thấy thi hài mình trong quan tài, giữa nến hoa và khói hương nghi ngút.

Cặp mắt tôi dừng lại một chút trên khuôn mặt những người xung quanh. Bấy giờ tôi mới hiểu cuộc sống của họ thật ngắn ngủi biết bao! Thật tiếc là họ không ý thức về điều đó. Lúc này, tâm trí họ đang tập trung vào tôi, chứ không phải vào cái chết của chính họ hay sự ngắn ngủi của đời người.

Một cảm giác thật lạ, vì hôm nay là buổi trình diễn cuối cùng của tôi trên mặt đất, lần cuối cùng tôi là trung tâm chú ý của mọi người. 

Trên tòa giảng, vị linh mục đang nói về tôi. Tôi vui thích thấy mình được mọi người thương tiếc. Tôi để lại một khoảng trống đau thương trong tim của người thân và bạn bè. Nhưng cũng thành thực nhận rằng: trong đám đông kia cũng có một số người vui mừng vì sự ra đi của tôi.

Theo đám rước vào nghĩa trang, tôi chen giữa đám đông đứng lặng bên mộ huyệt. Chương cuối cùng của đời tôi khép lại khi những lời cầu nguyện sau cùng được cất lên, và cỗ quan tài từ từ chìm sâu vào lòng đất. 

Tôi vẫn đứng bên mộ, hồi tưởng lại từng chương của đời mình, trong khi những người khác vội vã về nhà, về với những ước mơ và lo toan thường nhật.

Một năm sau tôi trở về trái đất. Những khoảng trống đau thương kia đã được lấp đầy. Ký ức về tôi vẫn sống trong tim bạn bè, nhưng họ ít nghĩ về tôi hơn. Giờ thì những người khác đã trở nên quan trọng hơn trong đời họ. Và phải thế thôi, vì cuộc sống vẫn phải tiếp tục. Tôi thăm lại công việc của mình: có ai đó đang tiếp tục làm. Giờ thì đã có người khác quyết định thay tôi. Tôi tìm lại những đồ dùng tôi yêu thích: chiếc đồng hồ, dàn vi tính, xe honda…, những thứ mà ngày nay không ai còn dùng nữa, vì đã quá lỗi thời.

30 năm sau tôi trở về lần nữa. Ngoài một vài bức ảnh mờ nhạt trong album và dòng chữ khắc trên mộ, chẳng có gì còn lại về tôi. Không còn cả những kí ức nơi bạn bè, vì chẳng còn ai sống nữa. Tôi cố tìm những gì còn sót lại. Ánh mắt tôi dừng lại nơi một chút bụi trong quan tài, lòng nghĩ về đời mình thuở trước: lo toan và niềm vui, tham vọng và mộng mơ, vinh quang và tủi nhục… Những gì đã làm nên đời tôi, tất cả đã cuốn bay theo gió. Chỉ còn lại một chút bụi, như dấu chứng đã từng có tôi trên đời.

Trong khi tôi chăm chăm nhìn chút bụi kia, dường như có một khối nặng bỗng cất khỏi vai tôi – đó là cái gánh nặng do việc nghĩ mình là quan trọng!

Phạm Long phỏng theo Anthony de Mello

Bài giảng lễ an táng cha Anton Phạm Đình Phùng

Thứ Bảy, 2 tháng 6, 2012

Lá xanh rụng xuống ...

Bài giảng của Đức cha Phaolo Nguyễn Thái Hợp trong lễ an táng cha Anton Phạm Đình Phùng tại Thuận Nghĩa ngày 01 tháng 6 năm 2012.

Đã là người thì ai cũng phải chết. Có triết gia đã định nghĩa con người như một “con vật” sinh ra để chết. Sinh, bệnh, lão, tử là những chặng đường đời bó buộc, mà kẻ trước người sau, tất cả chúng ta đều phải trải qua. Cái chết vì vậy trở thành sự kiện tất nhiên của thân phận làm người ở đời.

Thánh Tôma Aquinô gọi con người là hữu thể biên cương, nằm giữa vô biên và giới hạn, bất tử và phải chết, linh thiêng và có xác thân… Cũng như Đức Kitô đã đi qua cái chết để phục sinh vinh hiển thì con người cũng chỉ có thể bước vào cõi vĩnh hằng khi bước qua biên cương của hữu hạn, vô thường. Cái chết, vì vậy là một ngưỡng cửa dẫn vào cõi trường sinh.

Tuy nhiên, khi đối diện với cái chết của những người thân yêu, nhất là những cái chết quá bất ngờ và đột ngột như cái chết của cha Antôn Phạm Đình Phùng, không ai không khỏi bàng hoàng, đau xót… Sự hiện diện đông đảo của quý ông bà và anh chị em trong thánh lễ an táng này, phải chăng đã nói lên điều đó?

Bản thân tôi cũng đã trải qua những giây phút bàng hoàng và xúc động đến độ không thể nói thành tiếng khi loan báo cho nhân viên Tòa Giám mục ai tín này. Sáng hôm đó, ngày 29/5/2012, vào lúc 5g27 phút, khi tôi xuống cầu thang để lên xe đi đặt viên đá đầu tiên cho nhà thờ giáo xứ Thịnh Lạc, Hương Khê, thì điện thoại reo và anh Bùi Viết Toàn cho biết cha Phùng vừa từ trần. Tôi sững sờ kinh ngạc, vì chiều 28/5, qua điện thoại tôi còn nói chuyện với cha và chúc cha lên đường bình an. Nào ngờ đó là cuộc điện đàm cuối cùng với cha và tiếng chuông điện thoại của anh Toàn trở thành hồi chuông báo tử: cha Antôn Phạm Đình Phùng đã vội vã nằm xuống, vĩnh viễn lìa xa cuộc đời này. Vĩnh viễn từ giã Giáo phận Vinh. Vĩnh viễn chỉ hưởng dương chứ chưa hưởng thọ. Mãi mãi ở tuổi trung niên!

Suốt mấy ngày hôm nay tôi như bị ám ảnh bởi thân phận con người. Ôi, con người thật cao cả, bất khả xâm phạm, bất khả thay thế, to lớn vô cùng.  Bởi vì con người được dựng nên giống hình ảnh Thiên Chúa và hơn nữa, nhờ Đức Kitô làm người, con người được làm con Thiên Chúa. Nhưng con người cũng quá mỏng dòn, mong manh, gian truân, lận đận! Phải chăng vì được dựng nên từ bụi đất, nên con người sẽ trở về cát bụi? Nói gì thì nói, cuối cùng thời gian sẽ nghiền nát tất cả thành cát bụi!

Sách Giảng viên cho rằng vì được sáng tạo theo hình ảnh Thiên Chúa, nên con người được làm chủ vũ trụ. Nhưng, mặt khác, vì xuất thân từ bụi đất, rồi ra con người sẽ trở về bụi đất: “Mọi sự đều đi về một nơi / mọi sự đều đến từ bụi đất  / mọi sự đều trở về bụi đất”. Nói cho cùng, cuộc đời cũng nhẹ tênh như một cọng rơm trước gió. Chỉ cần gió thổi nhẹ là bay đi. Tất cả chỉ là hư vô, hão huyền, phù vân, phi lý.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn trong một lúc xuất thần đã sáng tác bài Cát bụi bất hủ:
“Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi.
Để một mai vươn hình hài lớn dậy.
Ôi cát bụi tuyệt vời
mặt trời soi một kiếp rong chơi
Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi
Để một mai tôi về làm cát bụi…”

Thánh Phêrô, lấy lại ý tưởng của Isaia, đã ví von đời người như cỏ héo hoa tàn:  “Mọi phàm nhân đều như cỏ và tất cả vinh quang của họ cũng đều như hoa cỏ; cỏ thì khô, hoa thì rụng. Lời Chúa vẫn tồn tại đến muôn thuở muôn đời” (1 Ph 1,24-25).

Phù vân, hão huyền, cát bụi, cỏ khô, hoa héo… tất cả chỉ là những hình ảnh diễn tả cái giới hạn, mong manh, vô thường của cuộc đời. Lý tưởng thì vô hạn, nhưng đời người sao quá ngắn ngủi và mong manh!

Mấy ngày nay, mỗi lần nghĩ đến sự ra đi quá đột ngột của cha Phùng, một linh mục thông minh, nhiệt thành và năng động mà giáo phận đang cần đến, trong đầu tôi cứ lởn vởn lời khẩn nài của vua Êzêkia: “Lạy Chúa, con như người thợ dệt, đang mải dệt đời mình, bỗng dưng bị tay Chúa cắt đứt ngay hàng chỉ” (Is 38,12).

Không gian, cảnh vật còn sờ sờ đó, mà người cũ đã nghìn trùng xa cách. Nhiều người lúc này đang nhớ cha như nhớ một nỗi đau. Có người cứ day dứt hỏi: Sao cha ra đi vội vàng và bất ngờ như thế giữa lúc nhiều công việc còn dang dở, tuổi đời và tài năng đang ở độ chín muồi?

Xét theo phương diện nhân loại, mọi sự chia ly đều kéo theo nỗi buồn, nỗi đau.  Khi đối diện với cái chết, nhất là cái chết của người thân yêu… thì cái mất mát, nỗi đau, nỗi buồn… lập tức đột biến thành cấp số nhân. Mọi cái chết đều gây sầu thảm, nhưng cái chết của những người còn trẻ, đang sung sức… biến thành thê thảm, nghẹn ngào hơn! Không phải vô lý mà có người đã uất ức, phản kháng, gào to lên: “Lá vàng còn ở trên cây / Lá xanh rụng xuống, trời hay chăng trời!”. 

Tại sao Chúa lại cắt đứt hàng chỉ như vậy? Tại sao một giáo phận đang thiếu linh mục trầm trọng, mà Chúa lại tiếp tục lấy đi một trong những người có khả năng nhất? Chúa có chương trình đặc biệt nào dành cho cha, khi Ngài muốn cha ngừng dệt đời mình ở vào tuổi trung niên?

Chẳng ai có thể đưa ra một câu trả lời thỏa đáng. Tuy nhiên, niềm tin vào Đức Kitô luôn mời gọi chúng ta cố gắng khám phá và nhận diện chương trình cũng như ý định của Thiên Chúa đối với mỗi người chúng ta. Niềm tin luôn mách bảo cho chúng ta phải chấp nhận trong tin tưởng và bước đi trong hy vọng. Đức tin cũng giúp chúng ta mở rộng tầm nhìn và cõi lòng để đón nhận sự sống của Thiên Chúa. Kinh Tiền tụng cầu cho người quá cố nhắn nhủ chúng ta: “Lạy Chúa, đối với các tín hữu Chúa, sự sống thay đổi chứ không mất đi, và khi nơi nương náu ở trần gian bị hủy diệt thì lại được một chỗ ở vĩnh viễn nơi quê trời”.

Qua cuộc đối thoại với cô Marta mà chúng ta vừa nghe trong bài Tin Mừng hôm nay, một lần nữa Chúa Giêsu tái xác quyết: “Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy thì dù đã chết, cũng sẽ được sống. Ai sống và tin vào Thầy, sẽ không bao giờ phải chết” (Ga 11, 25-26). Chúa đang hỏi mỗi người chúng ta như đã hỏi cô Maria: “Con có tin thế không?” Chắc chắn Ngài cũng đang mong chờ mỗi người chúng ta nói lên lời tuyên xưng giống như cô Marta.

Đứng tại bàn thờ nhìn xuống quan tài của cha đặt giữa nhà thờ, tôi chợt nhớ một câu hát thật ý nghĩa: “Người chết nối linh thiêng vào đời”. Thật kỳ diệu, tuy cha nằm bất động và chơ vơ ở đó, nhưng đang nối kết chúng tôi với cha và nối kết cuộc đời này với cõi vô biên. Cách đây 43 năm cha đến với cõi nhân gian này, bây giờ cha rời bỏ chúng tôi để về Nhà Cha, nơi quê hương vĩnh cửu. Có đến thì có đi. Đó là chuyện dĩ nhiên, phải không? Ước mong cha vẫn tiếp tục thúc đẩy sự nối kết giữa mọi thành viên trong giáo xứ với nhau, cũng như giữa giáo xứ với giáo hạt và giáo phận.

Xin gửi cha về lòng đất mẹ. Và hẹn gặp nhau mai sau nơi quê hương vĩnh cửu...

GM Phaolô Nguyễn Thái Hợp

Ân sủng rẻ tiền và ân sủng đắt giá

Chủ Nhật, 27 tháng 5, 2012

GM Phêrô Nguyễn Văn Khảm: Bài giảng lễ phong chức phó tế tại Sài Gòn ngày 26/5/2012 


Một vị giám mục cao tuổi nhận được thiệp mời dự lễ Trao tác vụ linh mục. Ngài hỏi tôi: gọi là trao tác vụ linh mục có đúng không, hay phải gọi là truyền chức linh mục? Ngài có lý, vì cách nói trao tác vụ linh mục hay tác vụ phó tế có thể gây hiểu nhầm rằng linh mục hay phó tế chỉ là một nhiệm vụ, một công việc, dù là công việc thánh. Đang khi đó, chức linh mục, chức phó tế không chỉ là một nhiệm vụ mà là điều gì đó sâu xa hơn nhiều. Trước hết và trên hết, đó là một ân sủng, “hồng ân Thánh Thần, cho phép thực thi một quyền thánh chức, quyền này chỉ có thể phát xuất từ chính Đức Kitô, qua Hội Thánh của Người” (GLHTCG số 1537). Chỉ trên nền tảng đó mới có thể nói đến tác vụ linh mục hay phó tế. Hiện hữu đi trước hành động. Chức linh mục thừa tác đi trước và làm nền cho thừa tác vụ linh mục. Dù khi già yếu bệnh tật hoặc trong hoàn cảnh không thể thi hành nhiệm vụ, linh mục vẫn là linh mục. Và chức linh mục hay phó tế ấy trước hết là một ân sủng: “Không ai tự gán cho mình vinh dự là thượng tế nhưng phải được Thiên Chúa kêu gọi, như ông Aharon đã được gọi” (Dt 5,4).
Vì là ân sủng được trao ban cho nên người lãnh nhận không có lý do gì để tự kiêu tự đắc cả, mà đúng hơn, phải biết đón nhận với lòng biết ơn và khiêm tốn. Sự khiêm tốn ấy vừa phát sinh từ ý thức về sự cao cả của hồng ân mình lãnh nhận, vừa phát xuất từ ý thức về sự mỏng dòn yếu đuối của bản thân.
Cách cụ thể, trong nghi thức phong chức hôm nay, vị giám mục chủ phong trao sách Phúc Âm cho từng tân chức với lời căn dặn: “Con hãy nhận lấy Phúc Âm Đức Kitô mà con đã trở thành người rao giảng, và con phải biết là hãy tin điều con đọc, dạy điều con tin và thi hành điều con dạy”. Vậy có ai trong anh em dám tự hào rằng, bằng sức riêng của mình, tôi sẽ sống cách hoàn hảo Lời mà tôi rao giảng? Bằng sức riêng của mình, tôi sẽ làm cho mọi người tin vào Chúa Kitô là Đường, Sự Thật và Sự Sống?
Cũng trong nghi thức hôm nay, các tân chức thề hứa vâng phục Đấng bản quyền và sống độc thân trọn đời. Có ai trong anh em dám tự hào rằng, bằng sức riêng của mình, tôi sẽ trung thành trọn đời và trọn vẹn lời thề hứa đó, nghĩa là từ trong tâm hồn chứ không chỉ là tránh những vi phạm bên ngoài?

Tự đặt cho mình những câu hỏi như thế để khám phá sự mỏng dòn và yếu đuối của mình, nhờ đó sống khiêm tốn hơn. Chính sự khiêm tốn ấy thúc đẩy chúng ta cậy trông vào Chúa, và cầu nguyện là sự diễn tả niềm cậy trông ấy. Tôi nhớ lại hình ảnh Đức hồng y John Henry Newman. Là một linh mục Anh giáo và nhà tư tưởng nổi tiếng ở Oxford lúc ấy, nhưng khi nghiên cứu, ngài khám phá ra chỉ có Hội Thánh công giáo mới là Hội Thánh đích thực của Chúa Kitô. Thế nhưng quả là sự giằng co xâu xé khi phải giã từ Anh giáo cùng với biết bao đau khổ gây ra cho những người thân yêu, tin tưởng nơi ngài. Với tâm trạng ấy, trên chuyến tầu giữa biển cả mênh mông và sương mù giăng kín, ngài đã viết nên lời cầu nguyện nổi tiếng Lead, kindly Light:


“Ánh sáng dịu êm, xin dẫn con.
Dẫn con đi tới giữa đêm mịt mùng…
Dẫn con vững bước trên đường
Con không cầu thấy chân trời xa xôi.
Dẫn con, dẫn con từng bước,
Từng bước một thôi”.
Hãy mang lấy những tâm tình cầu nguyện ấy, lời cầu nguyện của những tâm hồn khiêm tốn và đầy ắp niềm trông cậy. Đồng thời, khi nói đến ân sủng, đừng nghĩ rằng ân sủng miễn trừ mọi nỗ lực và cố gắng của con người. Bởi lẽ, nói theo ngôn ngữ của Dietrich Bonhoeffer, ân sủng mà chúng ta lãnh nhận là ân sủng đắt giá chứ không phải thứ ân sủng rẻ tiền. Là một mục sư Tin Lành Lutheran, Bonhoeffer bị Đức quốc xã bắt giam và bị treo cổ. Chính trong những ngày bị nhốt trong tù, ông đã viết ra những dòng này:
“Ân sủng rẻ tiền là lời rao giảng ơn tha thứ mà không đòi hỏi hoán cải, chịu Phép Rửa mà không cần sống theo giáo huấn của Giáo Hội, rước lễ mà không cần xưng tội, nhận ơn xá giải mà không cần thống hối. Ân sủng rẻ tiền là thứ ân sủng không đòi hỏi phải sống đời sống người môn đệ, thứ ân sủng không có thập giá, thứ ân sủng không có Đức Giêsu Kitô, Đấng hằng sống và nhập thể làm người. Còn ân sủng đắt giá là kho tàng chôn giấu trong ruộng sâu, và vì kho tàng đó mà một người vui mừng bán đi tất cả những gì mình có để mua cho bằng được.
Đó là viên ngọc vô giá mà người lái buôn sẵn sàng bán đi tất cả của cải để mua lấy. Đó là lề luật vương giả của Chúa Kitô có thể khiến cho một người dám móc mắt mà quăng đi nếu nó gây trở ngại. Đó là lời mời gọi của Chúa Kitô khiến cho các môn đệ bỏ cả thuyền và lưới mà đi theo Người. Ân sủng đắt giá là Tin Mừng phải được tìm đi tìm lại, là ơn ban ta phải khấn xin, là cánh cửa ta phải gõ vào… Ân sủng đó đắt giá vì Thiên Chúa đã phải trả giá bằng chính sự sống của Con Một Ngài, và cái khiến Thiên Chúa phải trả giá đắt dứt khoát không thể nào là rẻ tiền đối với chúng ta”.
Vâng, ân sủng mà hôm nay chúng ta lãnh nhận là ân sủng đắt giá. Và vì đắt giá nên chúng ta phải trả bằng cả con người và cuộc đời mình, một cuộc đời dám sống cho Chúa và phần rỗi các linh hồn. Xin anh chị em cầu nguyện cho các tân chức và cho tất cả chúng tôi, các giám mục và linh mục có mặt ở đây, sống được như thế.
Ngày 26-05-2012
Lễ phong chức phó tế cho các đại chủng sinh Sài Gòn

Gm. Phêrô Nguyễn Văn Khảm
Nguồn: WHĐ

Về ơn Cứu Độ ngoài Kitô Giáo

Thứ Hai, 14 tháng 5, 2012

LTS: Cha Raniero Cantalamessa, thần học gia Phủ Giáo Hoàng trong bài nhận định liên quan đến bài Tin Mừng Chúa Nhật tuần này đã đề cập đến vấn đề ơn Cứu Độ ngoài Kitô Giáo như sau:

Ai không chống lại chúng ta là ủng hộ chúng ta 



Cha Raniero Cantalamessa, thần học gia Phủ Giáo Hoàng
Thánh Gioan, một trong các tông đồ, thấy một người không trong nhóm các môn đệ nhân danh Chúa Giêsu mà trừ quỷ liền cấm người này làm thế. Khi ông thuật lại điều này với Chúa Giêsu, Chúa phán với ông rằng “Đừng ngăn cản người ta …vì ai không chống lại chúng ta là ủng hộ chúng ta” (Mc 9:39, 40).

Đây là chủ đề có một tầm quan trọng hiện nay. Chúng ta nghĩ thế nào về những người ngoại, những người ăn ở nhân lành và có những dấu chỉ của thần khí, mặc dù không tin nơi Đức Kitô và không thuộc về Giáo Hội. Họ có thể được cứu rỗi không?

Thần học đã luôn nhìn nhận khả năng, theo đó, Thiên Chúa có thể ban ơn cứu độ cho một số người theo những cách thức bên ngoài những cách thức thông thường là có đức tin nơi Đức Kitô, chịu phép rửa tội và là thành viên của Giáo Hội. 

Xác tín này đã được củng cố thêm trong thời đại tân tiến này, sau các khám phá địa lý và những tiến bộ trong khả năng truyền thông giữa các dân tộc khiến cho cần thiết phải ghi nhận rằng có vô số những con người, mà không phải lỗi tại họ, đã không hề được nghe lời công bố Tin Mừng, hay nghe trong một cách thế không phù hợp, từ những người đi chinh phục đất mới hay những kẻ thực dân lừa đảo, đến mức khó có thể chấp nhận được. 

Công Đồng Vaticanô II dạy rằng “Thánh Thần, trong một cách thế chỉ mình Chúa biết, ban cho mọi người khả năng được liên kết với mầu nhiệm phục sinh của Đức Kitô, và do đó, được cứu rỗi” ["Gaudium et Spes – Hiến Chế Vui Mừng và Hy Vọng" số. 22]. 

Đức tin Kitô Giáo của chúng ta đã thay đổi chăng? Không, chừng nào chúng ta tiếp tục tin vào hai điều này: Thứ nhất, Chúa Giêsu là, một cách khách quan và chân thật, đấng trung gian và đấng cứu độ duy nhất của toàn thể loài người, và rằng những ai không biết Ngài, nếu họ được cứu rỗi, đã được cứu rỗi nhờ vào Ngài và vào cái chết cứu độ của Ngài. Thứ hai, là những ai, dù không thuộc vào Giáo Hội hữu hình, nhưng có “ý hướng” khách quan về Giáo Hội, hình thành một Giáo Hội rộng lớn hơn mà chỉ có Chúa biết.

Trong bài Tin Mừng, Chúa Giêsu dường như đòi hỏi hai điều từ những người “ngoại”: họ không “chống” lại Ngài, nghĩa là họ không tích cực chống lại đức tin và các giá trị của đức tin, chẳng hạn, họ không tự nguyện đặt mình chống lại Thiên Chúa. 

Thứ hai, nếu họ không thể phụng sự và yêu mến Thiên Chúa, tối thiểu, họ phụng sự và yêu mến hình ảnh của Ngài, là con người, đặc biệt, những người đang cần giúp đỡ. Thật vậy, đoạn Tin Mừng tiếp tục nói về những người “ngoại” với những lời sau: “Ai cho anh em uống một chén nước vì lẽ anh em thuộc về Đấng Kitô, thì Thầy bảo thật anh em, người đó sẽ không mất phần thưởng đâu”.

Tuy nhiên, sau khi minh xác về tín lý, tôi tin cũng thực cần thiết để sửa đổi một số sai lầm khác: thái độ nội tâm của chúng ta, tâm lý của chúng ta như những tín hữu. Ta có thể hiểu, nhưng không thể chia sẻ, mâu thuẫn khó che đậy của một số tín hữu khi thấy đặc quyền liên quan đến đức tin vào Chúa Kitô và địa vị thành viên trong Giáo Hội của mình sụp đổ. Người ta nói: “Vậy thì là một Kitô hữu tốt có ích gì cơ chứ?”.

Trái lại, chúng ta nên vui mừng vô biên trước những khai mở mới này của thần học Công Giáo. Biết rằng anh chị em bên ngoài Giáo Hội cũng có cơ may được cứu rỗi thì còn có gì có sức giải thoát và thuyết phục về lòng quảng đại và ý chí vô biên của Thiên Chúa hơn là lời này “Đấng muốn cho mọi người được cứu độ” (1 Tm 2:4). Chúng ta hãy biến ao ước của Môsê thành ước vọng của chính chúng ta như đã được ghi trong bài đọc thứ Nhất Chúa Nhật tuần này: “Phải chi ĐỨC CHÚA ban Thần Khí trên toàn dân của Người!”. (Ds 11:29).

Biết như thế liệu chúng ta có nên để mọi người yên trong xác tín của họ và ngừng truyền bá đức tin nơi Chúa Kitô vì người ta cũng có thể được cứu rỗi bằng những con đường khác mà? Dĩ nhiên là không.

Nhưng điều mà chúng ta nên làm là nhấn mạnh đến lý do tích cực hơn là lý do tiêu cực. Lý do tiêu cực là thế này: “Hãy tin vào Chúa Giêsu, bởi vì ai không tin vào Ngài sẽ bị kết án muôn đời”; lý do tích cực là thế này: “Hãy tin vào Chúa Giêsu, bởi vì thật là tuyệt vời để được tin nơi Ngài, được biết Ngài, để được có Ngài kề bên như đấng cứu độ trong cuộc sống và trong giờ chết”.