Hiển thị các bài đăng có nhãn Sống đạo. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Sống đạo. Hiển thị tất cả bài đăng

Hy sinh tính mạng cho đứa con chưa sinh

Thứ Năm, 1 tháng 11, 2012


(Rôma, 26-6-2012, CNA) – Hàng trăm người Ý đã đến Nhà thờ Thánh Francisca Romana tại Rôma vào ngày 16-6 để tham dự Thánh lễ An táng của Chiara Corbella, một phụ nữ Công giáo qua đời sau khi trì hoãn việc điều trị ung thư để bảo vệ đứa con cô đang cưu mang.

Bệnh ung thư của Chiara tiến triển nhanh chóng và cuối cùng cô mất thị giác một bên mắt.

Lúc 28 tuổi, Chiara kết hôn với Enrico Petrillo trong hạnh phúc. Họ đã phải chịu đựng sự ra đi của 2 đứa con David và Maria, qua đời vì dị tật bẩm sinh, trong những năm gần đây. Đôi vợ chồng này đã trở thành những chứng nhân nổi tiếng tại các sự kiện bảo vệ sự sống, trong đó họ chia sẻ chứng từ về ít phút ngắn ngủi họ có được với các con của mình, trước khi các bé lìa đời.
Vào năm 2010, Chiara mang thai lần thứ ba. Theo các bác sĩ thì đứa bé phát triển bình thường. Tuy nhiên, Chiara được chẩn đoán mắc bệnh ung thư ác tính và được khuyên nên bắt đầu cuộc điều trị, có thể gây nguy hiểm cho thai nhi.
Chiara đã quyết định bảo vệ em bé – có tên là Francisco – và chọn không điều trị cho đến sau khi sinh bé, chào đời ngày 30-5-2011. Bệnh ung thư của Chiara tiến triển nhanh chóng và cuối cùng cô mất thị giác một bên mắt. Sau một năm dài chiến đấu với căn bệnh, Chiara qua đời vào ngày 13-6, bên cạnh những người thân yêu, và cô tin rằng mình sẽ được đoàn tụ với 2 đứa con trên thiên đàng. “Mẹ sẽ lên thiên đàng để chăm sóc cho Maria và David, con ở lại với bố. Mẹ sẽ cầu nguyện cho con”, Chiara viết trong một lá thư để lại cho Francisco, viết 1 tuần trước khi cô qua đời.
Thánh lễ An táng được ĐHY Agostino Vallini, Tổng Đại diện của Rôma, cử hành. Ngài gợi lại Chiara là “Gianna Beretta thứ hai”, vị thánh ở thế kỷ 20, đã hy sinh tính mạng của mình trong hoàn cảnh tương tự để cứu em bé trong bụng.
Trong bài giảng lễ, Cha Vito, linh hướng của Chiara, nhắc đến Chiara như một người phụ nữ trẻ dám liều mạng sống mình, cốt để làm gương cho các phụ nữ đang mang thai khác, “một bằng chứng có thể cứu sống rất nhiều người”.
Enrico, chồng của Chiara, nói rằng anh đã trải nghiệm “một câu chuyện tình yêu trên thập giá”. Phát biểu với Đài Phát thanh Vatican, anh nói rằng vợ chồng anh đã học được nơi 3 đứa con của mình rằng không có sự khác biệt giữa một cuộc sống chỉ vỏn vẹn có 30 phút hay kéo dài 100 năm. “Thật tuyệt vời khi khám phá ra tình yêu này, nó ngày càng lớn hơn nhiều khi phải đối mặt với rất nhiều vấn đề”, anh nói.
“Chúng tôi càng yêu nhau và càng yêu Chúa Giêsu nhiều hơn. Chúng tôi không bao giờ thất vọng trong tình yêu này, và vì lý do đó, chúng tôi không bao giờ bỏ lỡ thời gian, mặc dù những người xung quanh chúng tôi nói rằng “hãy chờ đợi, đừng vội có một đứa con khác”, Enrico nói.
Thế giới ngày nay cổ vũ mọi người đưa ra những lựa chọn sai lầm về hài nhi chưa được sinh ra, về người bệnh và người cao tuổi – anh lưu ý – “nhưng Chúa đáp lại bằng những câu chuyện như của chúng tôi”.
“Chúng ta muốn luận bàn về sự sống, về người tác thành nên nó, và do đó, cuối cùng, chúng ta tự làm lẫn lộn trong việc muốn trở thành người làm chủ sự sống và muốn tránh thánh giá Chúa gửi đến chúng ta”, anh nói tiếp.
“Sự thật là thánh giá này – nếu bạn vác cùng với Chúa Kitô – không đáng sợ như nó vốn có. Nếu bạn tin tưởng vào Chúa, bạn sẽ phát hiện ra rằng ngọn lửa này, thánh giá này không cháy bỏng, và bạn có thể tìm thấy sự bình an trong đau khổ và niềm vui trong cái chết”, Enrico giải thích.
“Tôi đã dành rất nhiều thời gian trong năm nay để suy gẫm cụm từ trong Tin Mừng nói rằng thánh giá Chúa trao thì êm ái và gánh thì nhẹ nhàng”. Khi nhìn Chiara lúc cô ấy hấp hối, rõ ràng tôi đã rất đau khổ. Nhưng tôi đã lấy hết sự can đảm và một vài giờ trước khi cô ấy ra đi – vào khoảng 8 giờ sáng, Chiara mất vào buổi trưa – tôi đã hỏi cô ấy.
Tôi hỏi: “Chiara thân yêu, có phải thánh giá này thật sự êm ái, như Chúa đã nói không? Cô ấy nhìn tôi và mỉm cười, và với một giọng nói nhẹ nhàng, cô ấy nói: “Đúng vậy, Enrico, nó rất êm ái”. Trong ý nghĩa này, cả gia đình không thấy Chiara ra đi một cách bình an, nhưng ra đi một cách vui vẻ, điều này khác hoàn toàn”, Ernico kể lại.
Khi con trai tôi lớn lên – anh nói thêm – tôi sẽ nói cho cậu bé biết rằng “thật đẹp biết bao khi để mình được Thiên Chúa yêu thương, bởi vì nếu con cảm nhận mình được yêu thương, thì con có thể làm được bất cứ điều gì”, và đây là “điều quan trọng nhất trong cuộc sống: để mình được yêu thương chính là để yêu thương và chết đi trong hạnh phúc”.
“Tôi sẽ nói với con trai tôi rằng đó là những gì mẹ của con, Chiara, đã làm. Chiara đã để mình được yêu thương, và trong một nghĩa nào đó, tôi nghĩ rằng cô ấy yêu thương tất cả mọi người theo cách này. Tôi cảm nhận cô ấy vẫn còn sống hơn bao giờ hết. Đối với tôi, được chứng kiến việc cô ấy ra trong hạnh phúc là một khoảnh khắc đáng nhớ cho đến chết”.
Mai Trang
Nguồn: EMTY

Trịnh Kim Tiến: Tôi đến với Chúa vì Người đã chọn tôi

Thứ Hai, 27 tháng 8, 2012

VRNs (30.07.2012) – Sài Gòn – Trước đây tôi không hề tin có Chúa. Với những hiểbiết ít ỏi và nông cạn của mình, thậm chí cách đây 2 năm tôi không hề biết đến Đạo Thiên Chúa. Một phần do tôi không để ý và một phần do gia đình tôi chỉ thờ tổ tiên ông bà. Tôi rất mê mẩn với những chuyện tâm linh và cũng là một người khá mê tín nhưng tôi không tin có Chúa. Tôi nhớ là lần đâu tiên tôi biết về Người là thông qua một người bạn học cao đẳng cùng tôi. Bạn đó có Đạo và gia đình bạn là Đạo Công giáo gốc.

Tôi cảm thấy thật phiền phức và rắc rối nếu mỗi tuần phải đến nhà thờ. Trước những lời xuyên tạc mà tôi nghe người ta nói về Đạo công giáo, tôi cảm thấy không thích những người Công giáo. Họ không được thờ lậy cha mẹ, không được cúng giỗ tổ tiên mà chỉ thờ lạy Chúa. Tôi cảm thấy như vậy thì thật không nên. Họ có cái nước bùa gì đó mà khi uống vào, ăn vào con người ta bị thôi miên, mê mẩn và tôn sùng Đạo mà quên mất chính thân mình… Đó là những điều mà tôi nghe được trước khi tôi biết về Chúa.
Sau khi biến cố gia đình xảy đến, tôi hụt hẫng và hoang mang. Cùng lúc đó, trong số đông những người quan tâm đến hoàn cảnh của gia đình tôi có các Cha và nhiều giáo dân Công giáo. Tôi thấy thật là lạ, tôi đã nghe rất nhiều điều không tốt về những người này, về Đạo này, nhưng khi tiếp xúc với họ tôi thấy họ đâu có xấu. Tôi thấy họ cũng như tôi, như mọi người, từ một số người tôi biết còn cảm nhận được sự chân thành, tốt bụng và thân thiện.
Rồi thì tôi hiếu kỳ, tôi tìm hiểu và tôi đang sắp trở thành con của Người. “Không phải anh em chọn Thầy mà chính Thầy đã chọn anh em” (Ga 15, 16), đúng vậy, chính Chúa đã chọn tôi làm con của Người. Câu nói này đến bây giờ, sau khi trải qua nhiều biến cố, thăng trầm, tôi mới hiểu được hết ý nghĩa của nó. Thật là khó nói hết ra những điều kỳ diệu mà Chúa đã mang đến cho tôi, thật sự nó rất huyền bí.










Nhưng cũng không phải tôi chưa bao giờ khước từ Chúa. Tôi đã chối bỏ Người rất nhiều lần, hết lần này tới lần khác, nhưng Người vẫn bao dung tôi, Người tha thứ và lại đón nhận tôi về bên Người.
Khi tôi cảm giác thấy Người đang đến gần tôi, tôi đã cố gắng để giả như không có điều đó, tôi phủ nhận Người có mặt nơi tôi. Tại vì tôi hốt hoảng và chưa thể tiếp nhận khi Chúa chọn mình. Tôi nói với những người bạn của mình, tôi học Đạo để hiểu thêm về Đạo nhưng tôi sẽ không theo Đạo. Tôi đã từng quả quyết và chắc chắn như vậy đấy. Mỗi tiết đến giờ học giáo lý hay mỗi khi tôi đi nhà thờ, cơn buồn ngủ của tôi lại tìm đến, tôi rất cố gắng để chiến thắng nó và nghe lời cha giảng. Trong khoảng thời gian đó liên tục xảy ra những việc khiến việc học Đạo của tôi bị ngắt quãng, có lẽ đó là những thử thách mà Chúa muốn tôi trải qua.
Tôi đã được học và tôi được hiểu, tôi đã nhận ra những điều tôi được nghe trước đây là những điều dối trá, là sự xuyên tạc và xúc phạm Chúa. Một trong 10 điều răn lớn của Chúa với các con chiên của Người là phải thảo kính với cha mẹ, ai nói người theo Đạo Công giáo là phải từ bỏ cha mẹ, tổ tiên của họ? Thậm chí họ còn có thể ngày ngày, hàng tuần hướng đến và cầu nguyện cho những người thân yêu của họ khi họ cùng tham gia nghi thức phụng vụ Chúa vào ngày Chúa Nhật. Còn thứ mà người ta cho là bùa mê đó, chính là Mình Máu Thánh, thứ mà một người con của Chúa khao khát được rước. Đâu phải ai cũng có thể được rước mà cho rằng đó là bùa chú con người ta. Mình Máu Chúa chỉ dành cho những ai tin tưởng và phó thác hoàn toàn vào Người.
Có rất nhiều cơ duyên để tôi gặp được những người bạn tốt, truyền cho tôi Đức tin và sự hiểu biết. Một cô bé kém tôi một tuổi, một người bạn, con của Chúa nói với tôi rằng: “Đạo Thiên Chúa không dạy gì ngoài tình yêu thương, điều mà Chúa mong muốn chỉ là hãy biết cách sống yêu thương nhau”. Tôi cứ nhớ mãi những lời cô bé nói. Còn một người bạn khác thì thủ thỉ vào tai tôi “Chúa nói với chị Chúa rất yêu thương em”. Tôi hạnh phúc biết bao khi nghe những lời đó.
Nhưng tôi đến với Chúa không bởi những điều người ta nói với tôi. Tôi đến với Chúa vì Người đã chọn tôi. Tôi đã thấy Người những khi tôi đau khổ, những khi tôi yếu đuối. Có khi ngồi trước linh ảnh, nhìn thấy những vết thương trên thân thể Người, nhớ về những điều tôi đã và đang trải qua, tôi khựng lại, trái tim tôi nhói lên và đau buốt.
Và bây giờ:
Tôi không thể sống tốt mà không có tình yêu thương của Chúa.
 Mônica Trịnh Kim Tiến

Chuyện kể về một linh mục Công Giáo trên tàu Titanic

Thứ Sáu, 20 tháng 4, 2012



VRNs (21.04.2012) - Toronto, USA - Những ngày vừa qua đã có một loạt các hoạt động kỷ niệm 100 năm tàu Titanic gặp nạn diễn ra trên toàn thế giới, nhất là tại thành phố Belfast, nơi “khai sinh” ra con tàu.
Trong số những bí mật chưa được khám phá hết về vụ đắm tàu lịch sử này có câu chuyện về một linh mục Công Giáo, cha Thomas Byles, người đã sẵn sàng nhường phao cứu hộ cho người khác để ở lại trên con tàu Titanic và ban các bí tích sau cùng cho các nạn nhân.

Cha Byles khi ấy 42 tuổi, đang trên chuyến hải trình định mệnh đến New York để làm lễ cưới cho người em của mình là William.
Một số nạn nhân sống sót trong thảm kịch Titanic kể lại rằng khi con tàu đâm vào khối băng ngầm thì cha Byles đang đọc kinh thần vụ ở tầng trên của boong tàu. Khi đó là ngày Chúa Nhật 14 tháng 4 năm 1912.
Cũng theo các nhân chứng có mặt, khi con tàu sắp chìm, vị linh mục này đã mau chóng giúp đỡ các trẻ em và phụ nữ xuống các xuồng cứu hộ, đồng thời ngài cũng tranh thủ giải tội, ban ơn xá giải và sau đó thì lần chuỗi mân côi với các hành khách đang gặp nạn trên tàu.
Bà Agnes McCoy, một trong những nạn nhân sống sót trong thảm họa này, kể lại: “Khi con tàu sắp chìm, Cha Byles đứng dưới boong tàu cùng với các tín hữu Công Giáo; các tín hữu Tin lành và Do thái cũng quỳ cầu nguyện quanh ngài.”
Bà Agnes kể lại với tạp chí New York Telegram ra ngày 22 tháng 4 năm 1912 rằng “cha Byles âm thầm lần chuỗi cầu nguyện cho các linh hồn sắp phải lìa bỏ cõi đời.”
Bạn của cha Byles là cha Patrick McKenna cho biết: “cha Byles đã hai lần từ chối xuống xuồng cứu hộ và để dành chỗ đó cho người khác. Ngài sẵn sàng ở lại trên tàu để hoàn thành trọn vẹn vai trò của mình trong tư cách một linh mục khi mà người khác đang cần đến sứ vụ của ngài.”
Câu chuyện về cha Thomas Byles quả thật là một nét đẹp và đầy ý nghĩa giữa những tang thương và chết chóc trong thảm kịch Titanic.
Anthony Dũng
Dựa theo Patrick B. Craine

Nguồn: Chuacuuthe.com
Tựa đề là của PK

Nhiệt thành của thập giá - Gm Nguyễn Văn Khảm

Chủ Nhật, 1 tháng 4, 2012


Tuần Thánh bắt đầu với Chúa nhật Lễ Lá và Phụng vụ Lễ Lá lại tiến hành với hai nhịp tương phản. Bắt đầu là cử hành việc Chúa Giêsu vào thành Giêrusalem trong tư cách một vị vua, được dân chúng đón tiếp trọng thể, ngập tràn tiếng reo vui. Rồi ngay sau đó trong Thánh Lễ, thay cho bài Tin Mừng lại là bài tường thuật cuộc thương khó của Chúa, cuộc thương khó đầy máu và nước mắt. Hội Thánh có ý gì khi liên kết hai sự kiện tương phản này? Tại sao không đợi đến Thứ Sáu Tuần Thánh để công bố bài thương khó mà phải đọc ngay từ Chúa nhật Lễ Lá? Đã hẳn có nhiều ý nghĩa phong phú hàm chứa ở đây cần được khai triển. Một trong những nội dung đáng quan tâm là Hội Thánh muốn làm nổi bật đường lối cứu thế của Chúa Giêsu và mời gọi con cái mình bước theo Thầy.


Khi kể lại việc Chúa Giêsu thanh tẩy Đền thờ Giêrusalem, thánh Gioan ghi nhận: “Các môn đệ của Người nhớ lại lời đã chép trong Kinh Thánh: Vì nhiệt thành lo việc Nhà Chúa mà tôi đây phải thiệt thân” (Ga 2,17). Một số Kitô hữu đã liên kết từ “nhiệt thành” ở đây – cũng như việc Chúa Giêsu được đón rước trọng thể vào thành Giêrusalem trong tư cách một vị vua – với phong trào chính trị được gọi là “Nhiệt Thành-zelos” thời bấy giờ. Ngoài ra người ta còn kết nối sự kiện này với lời các thượng tế tố cáo Chúa Giêsu trước tòa Philatô: “Ai xưng mình là vua thì chống lại Cêsarê” (Ga 19,12). Tất cả để dẫn đến kết luận Chúa Giêsu là nhà cách mạng chính trị.

Phong trào chính trị có tên gọi “Nhiệt Thành” được khơi nguồn từ ông Mattathias, cha của anh em nhà Macabê. Vào thời đó, vua Antiôkô cưỡng bức người Do Thái phải chối đạo và tế thần trên bàn thờ, nhưng ông Mattathias tuyên bố: “Chúng tôi sẽ không tuân theo lệnh vua mà bỏ việc thờ phượng của chúng tôi để xiêu bên phải, vẹo bên trái” (1 Mac 2,22). Và khi có một người Do Thái tiến ra tế thần trên bàn thờ theo chỉ dụ của nhà vua, thì sách Macabê kể lại: “Ông Mattathias bừng lửa nhiệt thành… ông nhào tới hạ sát hắn ngay tại bàn thờ. Ông cũng giết luôn viên chức của vua có nhiệm vụ cưỡng bức người Do Thái tế thần, rồi ông phá đổ bàn thờ”. Sau đó sách Macabê kết luận: “Ông bừng lửa nhiệt thành đối với Lề Luật giống như ông Pinêát trong vụ Dimri, con của Xalu” (2,23-26). Kể từ lúc đó, từ ngữ “nhiệt thành-zelos” trở thành khẩu hiệu diễn tả quyết tâm dùng sức mạnh và bạo lực để bảo vệ đức tin, bảo vệ Lề Luật.

Vào thời Chúa Giêsu, không ít người Do Thái đi theo phong trào này, chủ trương dùng bạo lực để xua đuổi đế quốc Rôma, giành lại chủ quyền và độc lập của dân tộc. Dựa vào một số chi tiết trong các sách Tin Mừng, người ta cũng nhìn Chúa Giêsu như một nhà cách mạng chủ trương dùng bạo lực để xây dựng một vương quốc chính trị. Đồng thời, dọc dài lịch sử Giáo Hội, hình ảnh Chúa Giêsu như một nhà cách mạng cũng được vận dụng để biện minh cho việc sử dụng bạo lực nhằm xây dựng một thế giới tốt đẹp hơn.

Thế nhưng đây có thực sự là ý hướng của Chúa Giêsu? Khi suy niệm về việc Chúa Giêsu vào thành Giêrusalem cách trọng thể, Đức Bênêđictô XVI trả lời: “Không. Làm cách mạng bằng bạo lực, nhân danh Thiên Chúa để giết người, đó không phải là đường lối của Chúa. Lòng nhiệt thành của Người đối với vương quốc Thiên Chúa được thể hiện bằng cách thức hoàn toàn khác”.

Trong ngày Lễ Lá, hình ảnh Chúa Giêsu cỡi trên lưng lừa tiến vào Giêrusalem làm dội lại lời tiên tri Zacaria: “Nào thiếu nữ Sion, hãy vui mừng hoan hỉ! Hỡi thiếu nữ Giêrusalem, hãy vui sướng reo hò! Vì kìa Đức Vua của ngươi đang đến với ngươi. Người là Đấng chính trực, Đấng toàn thắng; khiêm tốn ngồi trên lưng lừa, một con lừa con vẫn còn theo mẹ” (9,9). Vào thời tiên tri Zacaria cũng như vào thời Chúa Giêsu, con ngựa mới là biểu tượng của sức mạnh, còn lừa là phương tiện của người nghèo. Vì thế hình ảnh Vua Giêsu ngồi trên lưng lừa diễn tả một vị vua hoàn toàn khác. Người là vua của hòa bình, vua của người nghèo, vị vua đơn sơ và khiêm tốn.

Cũng lúc ấy, chúng ta khám phá lý do tại sao Phụng vụ Lễ Lá được bắt đầu bằng việc tưởng niệm Chúa Giêsu vào thành Giêrusalem trong vinh quang, rồi được tiếp nối bằng việc công bố bài thương khó. Để thấy rõ hơn chân dung của vị vua hòa bình. Để thấy rõ hơn ý nghĩa của “sự nhiệt thành”, không phải thứ nhiệt thành của bạo lực nhằm xây dựng một vương quốc trần thế, nhưng là sự nhiệt thành của Thập Giá, nhiệt thành của tình yêu tự hiến trọn vẹn.

Sự nhiệt thành ấy cũng chất vấn cách nhìn và cách sống của người môn đệ Chúa Giêsu ở mọi thời đại và trong mọi hoàn cảnh. Có những lúc người môn đệ Chúa cũng bị cám dỗ sử dụng bạo lực để gọi là phục vụ Nước Chúa. Nếu chưa phải là những hành động bạo lực thì cũng là những lời nói và ứng xử bạo lực. Dù là hành động hay lời nói thì gốc rễ vẫn là sự căm thù chất chứa trong tâm hồn, đôi khi được ẩn giấu dưới lớp áo nhiệt thành, và sự căm thù ấy đã dẫn đến biết bao hậu quả tai hại cho chính Hội Thánh của Chúa. “Chúng ta đã biết quá rõ những hậu quả tàn ác của thứ bạo lực với động cơ tôn giáo. Bạo lực không xây dựng vương quốc Thiên Chúa, vương quốc của nhân tính. Ngược lại, bạo lực là khí cụ ưa thích của tên phản-Kitô, cho dù nó núp bóng tôn giáo. Nó không phục vụ nhân loại mà phục vụ sự phi nhân” (Benedict XVI, Jesus of Nazareth, tome II, 15).

“Chúa Giêsu đã thiết lập tiêu chuẩn đánh giá lòng nhiệt thành chân chính, đó là lòng nhiệt thành của tình yêu tự hiến, và sự nhiệt thành này phải trở nên mục tiêu của đời sống Kitô hữu”. Suy tư này của Đức Bênêđictô XVI đáng cho mỗi người Kitô hữu ghi nhớ để soi sáng lời nói và hành động của mình. Nhất là trong Tuần Thánh, khi đi đàng Thánh Giá, khi ôn lại những chặng đường trong cuộc khổ nạn của Chúa chúng ta.

Lễ Lá 2012
Gm. Phêrô Nguyễn Văn Khảm

Bài giảng của ĐGH Benedicto 16 trong lễ Bổn mạng Cu Ba

Thứ Tư, 28 tháng 3, 2012

Anh chị em thân mến,

Cha tạ ơn Thiên Chúa đã cho Cha được đến với anh chị em và thực hiện được chuyến đi đầy mong đợi này. Cha chào đón Đức Cha Dionisio García Ibanez, Tổng Giám Mục Santiago de Cuba, và Cha cám ơn ngài về những lời chào đón nồng nhiệt thay mặt cho tất cả mọi người. Cha chào các Giám Mục Cuba và những người đã đến từ những nơi khác, và các linh mục, các nam nữ tu sĩ, chủng sinh và anh chị em giáo dân hiện diện trong buổi cử hành này. Cha cũng không quên tất cả những ai, vì bệnh tật, tuổi già, hoặc vì những lý do khác, không thể tham gia với chúng ta. Cha cũng chào đón các nhà chức trách dân sự đã muốn tham gia cùng chúng ta.


Đây là Thánh Lễ đầu tiên mà Cha vui mừng được cử hành trong chuyến viếng thăm mục vụ của Cha trên đất nước này, diễn ra trong bối cảnh của Năm Thánh Đức Mẹ được cử hành để vinh danh và tôn kính Đức Mẹ Bác Ái, Bổn Mạng của Cuba, nhân kỷ niệm 400 tìm thấy bức tượng đáng kính của Mẹ tại đất nước được chúc phúc này. Cha không thể quên những hy sinh và cống hiến để chuẩn bị cho Năm Thánh, đặc biệt trên phương diện siêu nhiên. Cha rất cảm động khi nghe nói đến lòng nhiệt thành mà rất nhiều người dân Cuba dành cho Đức Maria khi chào đón và khẩn cầu Mẹ trong suốt cuộc thánh du của Mẹ tại mọi miền của đảo quốc này.

Những sự kiện quan trọng này của Giáo Hội tại Cuba tỏa sáng đặc biệt hơn vì trùng với ngày toàn thể Giáo Hội Hoàn Vũ cử hành lễ Thiên Thần Truyền Tin cho Đức Trinh Nữ Maria. Mầu nhiệm Nhập Thể của Ngôi Hai Thiên Chúa là mầu nhiệm trung tâm của đức tin Kitô giáo, và trong đó Mẹ Maria chiếm vị trí rất quan trọng. Tuy nhiên, chúng tôi tự hỏi, đâu là ý nghĩa của mầu nhiệm này? Và, đâu là tầm quan trọng của mầu nhiệm ấy trong cuộc sống cụ thể của chúng ta?

Trước hết, chúng ta hãy xem mầu nhiệm Nhập Thể có ý nghĩa gì. Trong Tin Mừng của Thánh Luca, chúng ta nghe những lời của thiên sứ báo cho Đức Maria: "Thánh Thần sẽ ngự xuống trên Bà, và quyền năng của Đấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên Bà, và con trẻ được sinh ra sẽ được gọi là thánh, là Con Thiên Chúa "(Lc 1:35). Trong Đức Maria, Con Thiên Chúa làm người, hoàn tất lời tiên tri của tiên tri Isaia: "Này, một trinh nữ sẽ thụ thai và sinh hạ một con trai, và con trẻ sẽ được gọi là Emmanuel, nghĩa là 'Thiên Chúa ở cùng chúng ta" (Is. 7:14). Chúa Giêsu, Ngôi Lời làm người, thực sự là Thiên Chúa ở cùng chúng ta, là người đã đến sống giữa chúng ta để chia sẻ thân phận con người của chúng ta. Thánh Gioan Tông đồ trình bày mầu nhiệm ấy như sau: "Và Ngôi Lời đã hóa thành nhục thể và ở giữa chúng ta" (Ga 1:14). Thành ngữ, "đã hóa thành nhục thể" chỉ ra thực tại nhân loại của chúng ta một cách cụ thể và hữu hình nhất. Trong Chúa Kitô, Thiên Chúa đã thực sự đi vào thế giới, Ngài đã bước vào lịch sử của chúng ta, Ngài đã cư ngụ giữa chúng ta, và vì thế hoàn thành mong muốn sâu xa nhất của con người là thế giới này có thể thật sự trở thành một ngôi nhà xứng đáng của nhân loại. Mặt khác, khi Thiên Chúa bị gạt sang một bên, thế giới sẽ trở thành một nơi khắc nghiệt cho con người, và làm thất vọng ơn gọi chân thật của tạo hóa muốn biến thế giới này thành một không gian của giao ước cho lời “Xin Vâng” trước tình yêu giữa Thiên Chúa và phàm nhân nào đáp lại lời Ngài. Đức Maria đã làm như vậy như là hoa quả đầu tiên của các tín hữu với lời "Xin Vâng" không ngần ngại với Chúa.

Vì lý do này, khi suy niệm mầu nhiệm Nhập Thể, chúng ta không thể không hướng cái nhìn của chúng ta về Đức Mẹ với suy tư, lòng biết ơn, và tình yêu khi nhận ra Thiên Chúa đã đến trong thế giới như thế nào. Ngài đã muốn phụ thuộc vào lời xin vâng của một trong những tạo vật do Ngài tác thành. Chỉ khi Đức Trinh Nữ trả lời thiên sứ, "Này tôi là tôi tớ Chúa, tôi xin vâng như lời Thánh Thiên Thần Truyền" (Lc 1:38), Ngôi Lời Hằng Có Đời Đời của Chúa Cha mới bắt đầu sự tồn tại phàm nhân của mình. Thật là cảm động, khi thấy Thiên Chúa không chỉ tôn trọng tự do của con người mà thôi, nhưng Ngài đi xa đến độ thỉnh cầu tự do ấy. Và chúng ta cũng thấy sự khởi đầu của cuộc sống trần thế của Con Thiên Chúa được đánh dấu như thế nào bằng hai tiếng "Xin Vâng" trước kế hoạch cứu độ của Chúa Cha, đó là lời "Xin Vâng" của Chúa Kitô, và lời "Xin Vâng"của Đức Maria. Sự vâng phục Thiên Chúa này sẽ mở ra những cánh cửa của thế giới cho sự thật, và ơn cứu rỗi. Thiên Chúa đã tạo dựng chúng ta như hoa quả tình yêu vô biên của Ngài, do đó, sống phù hợp với thánh ý Chúa là cách thức để gặp được căn tính thật sự của chúng ta, sự thật về bản ngã của chúng ta, trong khi xa rời Thiên Chúa chúng ta tha hóa chính mình và rơi vào hư vô. Sự vâng phục của đức tin là tự do thực sự, là sự cứu chuộc thực sự, cho phép chúng ta kết hiệp với tình yêu của Chúa Giêsu trong quyết tâm của mình sống phù hợp với thánh ý Chúa Cha. Ơn cứu chuộc luôn luôn là quá trình nâng lên của ý chí con người muốn hoàn toàn hiệp thông với Thiên Chúa.

Anh chị em thân mến, trước cái nhìn trìu mến của Đức Mẹ Bác Ái Mỏ Đồng, tôi kêu gọi anh chị em hãy tăng cường đức tin anh chị em, để anh chị em có thể sống trong Chúa Kitô và cho Chúa Kitô, và trang bị cho mình lòng khoan dung, yêu chuộng hòa bình và hiểu biết, để anh chị em có thể phấn đấu xây dựng một xã hội đổi mới và cởi mở, một xã hội tốt hơn, xứng đáng hơn của nhân loại, và phản ánh đẹp hơn sự tốt lành của Thiên Chúa. Amen.



Vietcatholic.org
-------------------------------------------


March 27, 2012.

(Romereports.com) During the Mass in honor of the patroness of Cuba, Our Lady of Charity, Benedict XVI said he was “full of excitement knowing the fervor that Cubans had for the Virgin”.

Dear Brothers and Sisters,

I give thanks to God who has allowed me to come to you and to make this much anticipated trip. I greet Bishop Dionisio García Ibáñez, Archbishop of Santiago de Cuba, and I thank him for his warm words of welcome offered on behalf of everyone. I greet the Bishops of Cuba and those who have come from elsewhere, and the priests, religious men and women, seminarians and lay faithful present for this celebration. I cannot forget all those who, for reasons of illness, advanced age or for other motives, are not able to join us. I also greet the civil Authorities who have graciously wished to join us.

This first Holy Mass which I have the joy of celebrating during my pastoral visit to this country, takes place in the context of the Marian Jubilee Year called to honor and to venerate Our Lady of Charity of El Cobre, Patroness of Cuba, in this fourth centenary of the discovery and presence of her venerable statue in this blessed land. I cannot forget the sacrifices and the dedication with which this jubilee has been prepared, especially spiritually. I was deeply touched to hear of the fervor with which Mary has been welcomed and invoked by so many Cubans during her journey to every corner of the island.

These important events in the Church in Cuba take on a special luster because of the feast celebrated today throughout the universal Church: the Annunciation of the Lord to the Virgin Mary. The Incarnation of the Son of God is the central mystery of the Christian faith, and in it Mary occupies a central place. But, we ask, what is the meaning of this mystery? And, what importance does it have for our concrete lives?

First of all, let us see what the Incarnation means. In the Gospel of Saint Luke we heard the words of the angel to Mary: "The Holy Spirit will come upon you, and the power of the Most High will overshadow you; therefore the child to be born will be called holy, the Son of God" (Lk 1:35). In Mary, the Son of God is made man, fulfilling in this way the prophecy of Isaiah: "Behold, a young woman shall conceive and bear a son, and shall call his name Immanuel, which means ‘God-with-us’" (Is 7:14). Jesus, the Word made flesh, is truly God-with-us, who has come to live among us and to share our human condition. The Apostle Saint John expresses it in the following way: "And the Word became flesh and dwelt among us" (Jn 1:14). The expression, "became flesh" points to our human reality in most concrete and tangible way. In Christ, God has truly come into the world, he has entered into our history, he has set his dwelling among us, thus fulfilling the deepest desire of human beings that the world may truly become a home worthy of humanity. On the other hand, when God is put aside, the world becomes an inhospitable place for man, and frustrates creation’s true vocation to be a space for the covenant, for the "Yes" to the love between God and humanity who responds to him. Mary did so as the first fruit of believers with her unreserved "Yes" to the Lord.

For this reason, contemplating the mystery of the Incarnation, we cannot fail to turn our eyes to her so as to be filled with wonder, gratitude and love at seeing how our God, coming into the world, wished to depend upon the free consent of one of his creatures. Only from the moment when the Virgin responded to the angel, "Behold, I am the handmaid of the Lord; let it be to me according to your word" (Lk 1:38), did the eternal Word of the Father began his human existence in time. It is touching to see how God not only respects human freedom: he almost seems to require it. And we see also how the beginning of the earthly life of the Son of God was marked by a double "Yes" to the saving plan of the Father - that of Christ and that of Mary. This obedience to God is what opens the doors of the world to the truth, to salvation. God has created us as the fruit of his infinite love; hence, to live in accordance with his will is the way to encounter our genuine identity, the truth of our being, while apart from God we are alienated from ourselves and are hurled into the void. The obedience of faith is true liberty, authentic redemption, which allows us to unite ourselves to the love of Jesus in his determination to conform himself to the will of the Father. Redemption is always this process of the lifting up of the human will to full communion with the divine will (cf. Lectio Divina with the parish priests of Rome, 18 February 2010).

Dear brothers and sisters, today we praise the Most Holy Virgin for her faith, and with Saint Elizabeth we too say, "Blessed is she who believed" (Lk 1:45). As Saint Augustine said, Mary conceived Christ by faith in her heart before she conceived him physically in her womb; Mary believed and what she believed was came to be in her (cf. Sermo 215, 4: PL 38, 1074). Let us ask the Lord to strengthen our faith, to make it active and fruitful in love. Let us implore him that, like her, we may welcome the word of God into our hearts, and carry it out with docility and constancy.


The Virgin Mary, by her unique role in the mystery of Christ, represents the exemplar and model of the Church. The Church, like the Mother of Christ, is also called to embrace in herself the mystery of God who comes to live in her. Dear brothers and sisters, I know with what effort, boldness and self-sacrifice you work every day so that, in the concrete circumstances of your country, and at this moment in history, the Church will better present her true face as a place in which God draws near and encounters humanity. The Church, the living body of Christ, has the mission of prolonging on earth the salving presence of God, of opening the world to something greater than itself, to the love and the light of God. It is worth the effort, dear brothers and sisters, to devote your entire life to Christ, to grow in his friendship each day and to feel called to proclaim the beauty and the goodness of his life to every person, to all our brothers and sisters.

I encourage you in this task of sowing the word of God in the world and offering to everyone the true nourishment of the body of Christ. Easter is already approaching; let us determine to follow Jesus without fear or doubts on his journey to the Cross. May we accept with patience and faith whatever opposition or affliction may come, with the conviction that, in his Resurrection, he has crushed the power of evil which darkens everything, and has brought the dawn of a new world, the world of God, of light, of truth and happiness. The Lord will not fail to bless with abundant fruits the generosity of your commitment.

The mystery of the Incarnation, in which God draws near to us, also shows us the incomparable dignity of every human life. In his loving plan, from the beginning of creation, God has entrusted to the family founded on matrimony the most lofty mission of being the fundamental cell of society and an authentic domestic church. With this certainty, you, dear husbands and wives, are called to be, especially for your children, a real and visible sign of the love of Christ for the Church. Cuba needs the witness of your fidelity, your unity, your capacity to welcome human life, especially that of the weakest and most needy.

Dear brothers and sisters, before the gaze of Our Lady of Charity of El Cobre, I appeal to you to reinvigorate your faith, that you may live in Christ and for Christ, and armed with peace, forgiveness and understanding, that you may strive to build a renewed and open society, a better society, one more worthy of humanity, and which better reflects the goodness of God. 
Amen.

Các giáo phụ nói về ngừa thai và phá thai

Chủ Nhật, 19 tháng 2, 2012

Mới đây, chính phủ Obama muốn ủy thác cho mọi người, kể cả các viện Công giáo, trả giá cho việc ngừa thai, các loại thuốc triệt sản và phá thai, đã nêu lên vấn đề giáo huấn Công giáo về các vấn đề này.


Didache.jpg



Một số nhà phê bình đã lầm lẫn cho rằng Công giáo cấm làm các việc này khi nói tới Tông thư Humanae Vitae (Sự sống Con người, 1968 – nói về điều chỉnh sinh sản) của ĐGH Phaolô VI năm 1968, hoặc hoặc Tông thư Casti Connubii (1930 – nói về tiết hạnh hôn nhân) của ĐGH Piô XI năm 1931.Tông thư của ĐGH Piô XI được viết để đáp lại sự thay đổi luân lý của Anh giáo, đã xói mòn nhiều thế kỷ do sự kết án của Tin Lành về việc ngừa thai bằng cách cho phép điều đó từ Hội nghị Lambeth ngày 15-8-1930.ĐGH Phaolô VI viết Tông thư Humanae Vitae để phản đối loại thuốc ngừa thai mới được phát minh, không chấp nhận đó là phương tiện tránh thai hợp pháp đối với người Công giáo. Tuy nhiên, các Tông thư này, cùng với gần 100 phán quyết của Tòa thánh trong thế kỷ XX kết án việc tránh thai nhân tạo, chỉ trình bày lại lịch sử của thần học luân lý về vấn đề này.Người Công giáo biết lịch sử này về giáo huấn luân lý về việc ngừa thai và phá thai để lấy lại vị thế của mình ngược với ủy quyền này, cũng như biết sống tốt đức tin Công giáo hơn. Vì thế, chúng ta sẽ đưa ra một số văn bản từ các nguồn của các Giáo phụ thời kỳ đầu của Kinh thánh để chứng minh Kinh thánh đã phản đối những việc này như thế nào, phổ biến trong xã hội Hy La.
The earliest reference to contraception and abortion is in the Didache (/
ˈdɪdək/; Koine Greek: Διδαχή; Didachē nghĩa là Giáo huấn) hoặc Giáo huấn của 12 Tông đồ, tài liệu này từ nửa sau thế kỷ I hoặc đầu thế kỷ II. Didache viết: “Người ta không được hạn chế sinh sản, không được giết thai nhi bằng cách phá thai, hoặc giết cái gì do mình gây ra”.Nhiều bản dịch gọi là “thực hành ma thuật” (practice sorcery) vì từ ngữ Hy Lạp đôi khi có nghĩa đó (x. Kn 12:4; Gl 5:20; Kh 18:23). Tuy nhiên, nó cũng có nghĩa là thực hành y học hoặc dùng độc dược, và thuật ngữ này có thể ám chỉ các biện pháp tránh thai, đó là trường hợp trong các văn bản sau đây.Một văn bản thời kỳ đầu là Epistle of Barnabas (Thư của Thánh Barnaba): “Người ta không được giết một đứa trẻ bằng cách phá thai, cũng không được hủy hoại nó sau khi nó sinh ra”. Điều này cũng cho thấy rằng các Kitô hữu thời kỳ đầu cấm phá thai.Thế kỷ II, thánh Clêmentô thành Alexandria viết trong Paedagogus (Παιδαγωγός, tác phẩm thứ nhì trong ba tác phẩm nổi tiếng của ngài): “Các phụ nữ dùng loại thuốc phá thai nào đó thì không chỉ giết phôi thai mà còn giết cả nhân loại”. Câu này ủng hộ cách dịch của chúng ta đối với từ Didache bàng cách nói đến cách dùng thuốc phá thai.
Năm 177, Athenagoras thành Athens viết trong cuốn Supplication for the Christian (Thỉnh cầu người Kitô giáo): 
“Khi chúng tôi nói rằng các phụ nữ dùng thuốc phá thai là phạm tội giết người, và sẽ phải trả lẽ trước mặt Chúa về việc phá thai, chúng ta phá thai vì luật nào?”Đây là văn bản đầu tiên trong nhiều văn bản của các Giáo phụ xác định việc phá thai với tội sát nhân, cho thấy giá trị cao đối với tính người của thai nhi. Cuốn Lời xin lỗi của Tertullian năm 197, ông vẫn hiệp thông với Giáo hội, ghi: “Trong trường hợp của chúng ta, giết người một lần cũng bị cấm, chúng ta không thể hủy hoại ngay cả bào thai còn trong tử cung, vì thai nhi đã lấy máu từ các phần cơ thể để là chất bổ dưỡng. Cản trở sinh sản là cách giết người mau hơn; dù người ta giết một sinh vật đã ra đời hoặc hủy hoại một sinh vật sắp sinh ra”. Chính Tertullian là người đã kết hôn và hiểu phẩm giá của thai nhi trong tử cung.Thế kỷ III, Minucius Felix (năm 226) viết trong cuốn Octavius“Bằng cách uống thuốc, có một số phụ nữ hủy hoại con người trong chính cung lòng mình, vậy là họ phạm tội giết người”.Khoảng năm 228, thánh Hippôlytô viết về các phụ nữ không lập gia đình, kể cả một số người là Kitô hữu, có thai “bất hợp pháp”. Trong cuốn Refutation of All Heresies (Bác bẻ các Tà thuyết), thánh Hippôlytô viết: “Phụ nữ là tín hữu mà lại dùng thuốc ngừa thai và bó buộc mình, để họ loại bỏ cái mình thụ thai vì không muốn có con hoặc vì nô lệ hoặc vì bạn tình, vì mục đích gia đình và vật chất. Đó là trái đạo lý vì vừa phạm tội dâm dục vừa phạm tội sát nhân! Vả lại, sau những hành động trơ tráo như vậy, họ không còn biết xấu hổ khi nhận mình là Công giáo”.Thánh nhân cân nhắc động thái của họ là chối bỏ tình trạng Kitô hữu. Tài liệu Constitutions of the Holy Apostles (Hiến pháp của các Tông đồ) viết: “Người ta không được giết con mình bằng cách phá thai, hoặc giết cái gì được tạo ra, vì mọi thứ được hình thành và tiếp nhận linh hồn từ Thiên Chúa, nếu nó bị giết thì sẽ bị trả báo, vì đã hủy hoại bất chính”.Câu này chứng tỏ rằng bào thai có linh hồn và sự sống của nó phải được bảo vệ ngay từ khi thụ thai.Thế kỷ IV, các tác giả Hy Lạp và Latin đã nói về các vấn đề này. Thánh Augustinô (*) viết trong cuốn On Marriage and Concupiscence (Hôn nhân và nhục dục, năm 419): “Tôi giả sử, dù người ta không ăn nằm với vợ để sinh con đẻ cái, không để dâm dục làm bế tắc việc sinh con vì ý xấu. Những người làm vậy, dù họ là vợ chồng, thì không còn là vợ chồng; hoặc họ ngăn cản thực tế hôn nhân, nhưng với một người đứng đắn đã che giấu điều ô nhục”.Thánh Basiliô Cả viết trong First Canonical Letter (Thư Giáo luật thứ nhất, năm 374): “Phụ nữ cố ý hủy hoại đứa con chưa sinh của mình là phạm tội giết người. Với chúng ta, không có hướng dẫn để được hoặc không hình thành. Trong trường hợp này, đó không chỉ về việc sinh ra người được xác nhận, mà phụ nữ đó còn tự tấn công mình, vì trong đa số trường hợp, các phụ nữ đều muốn chết. Hủy hoại thai nhi là thêm trọng tội khác, tội giết người lần thứ nhì, với mọi sự kiện, nếu chúng ta coi điều đó là cố ý làm”.Lý do ngài nói đến “việc điều tra có được định hình hay không” mà một số thần học gia nghĩ rằng một linh hồn không phát triển trong bào thai cho tới táng thứ ba hoặc muộn hơn. Thánh Basiliô cho biết rằng điều này không là vấn đề vì ở bất cứ giai đoạn nào thì việc hủy hoại bào thai đều là “tội trọng” và là “giết người”. Pace Nancy Pelosi nói rằng vì thánh Augustinô nghĩ rằng linh hồn bắt đầu có trễ trong thai kỳ, do đó việc phá thai có thể chấp nhận trong thời gian đầu. Thánh Basiliô cho rằng lý luận sai lầm như vậy là vô căn cứ (unfounded).Thánh Giêrônimô viết trong Lá thư 22 gởi Eustochium (năm 396): “Một số người, khi thấy mình có con ngoài ý muốn, họ dùng thuốc để phá thai, và khi họ chết với đứa con (thường xảy ra), họ vào “thế giới thấp” mang theo tội không chỉ là tội ngoại tình chống lại Thiên Chúa, mà còn phạm tội tự tử và giết con mình. Những người này nói: “Tới mức tinh khiết thì mọi thứ đều tinh khiết. Lương tâm tôi đủ hướng dẫn cho tôi. Trái tim thuần khiết là cái Thiên Chúa kiếm tìm”.Ở đây, thánh Giêrônimô từ chối lương tâm của sự phá thai là sự hướng dẫn đầy đủ. Những điều này được làm rõ trong các thế kỷ sau, lương tâm phải được định hình đúng để Thiên Chúa có thể thực sự tìm được tâm hồn thuần khiết trong mỗi con người.Không chỉ các thần học gia nổi tiếng nói về việc phá thai và tránh thai, một số Công đồng cũng đề cập. Công đồng Elvira ở Tây Ban Nha (năm 305) tuyên bố 2 điều cấm cử hành các bí tích cho các phụ nữ phá thai: “Nếu một phụ nữ có thai vì tội ngoại tình, khi chồng vắng nhà, và sau đó phụ nữ này hủy bỏ đứa con, phụ nữ này không được rước lễ cho tới lúc chết, vì phụ nữ này phạm 2 trọng tội”. Giáo luật 68 viết: “Nếu một tân tòng mang thai vì gian dâm và giết hại đứa con, phụ nữ này chỉ có thể được rửa tội lúc cuối đời”.Quyết định tương tự cũng đạt được tại Công đồng Ancyra (năm 314): “Liên quan các phụ nữ phạm tội gian dâm và phá thai, hoặc những người được thuê làm thuốc phá thai, họ không được rước lễ cho tới lúc chết”.Không Giáo phụ nào hoặc Công đồng nào đưa ra ý kiến ngược lại về vấn đề tránh thai và phá thai. ĐGH Piô XI, Chân phước Phaolô VI và Chân phước Gioan Phaolô II cũng đưa ra giáo huấn về vấn đề tương tự bắt đầu từ các thế hệ đầu tiên, tiếp tục qua thời Trung cổ, và được các nhà cải cách Tin Lành dạy. Chính Martin Luther gọi những người dùng biện pháp tránh thai là “ngu xuẩn”, “thú vật” và “con heo”. Còn John Calvin nói rằng việc tránh thai “bị kết án” và “hết sức ghê tởm” trong khi phá thai là “trọng tội không thể chuộc tội”.
Các ĐGH đã kêu gọi Giáo hội áp dụng phương pháp luân lý và thánh thiện đối với hôn nhân và sinh sản con cái. Chúng ta định hình lương tâm theo ánh sáng của truyền thống kiên định này, đồng thời chúng ta dạy và sống như vậy nhờ hồng ân Thiên Chúa ban cho chúng ta.



TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ NCRegister.com)



(*) Khi viết điều này, ngài đã làm giám mục GP Hippo, ngài cũng đã “có tiếng” là sống với vợ lẽ 14 năm và có 1 con trai với bà này. Do đó, ngài có kinh nghiệm sống gia đình và rút kinh nghiệm từ những sai lầm của mình.


Tôn giáo và hạnh phúc


Tôn giáo và Hạnh phúc
VRNs (20.02.2012) – European Social Survey – Cuối năm 2011, để phân tích kinh nghiệm về nỗ lực của tôn giáo đối với hạnh phúc, người ta đã sử dụng các dữ liệu từ 3 đợt (2002/2003, 2004 và 2006) của tổ chức Nghiên cứu Xã hội Âu châu (ESS – European Social Survey) đối với 114.019 cá nhân ở 24 quốc gia.
Các dữ liệu này cung cấp thông tin về đặc tính cá nhân như giới tính, tuổi tác, thu nhập, sức khỏe tổng quát theo quan điểm cá nhân, tình trạng hôn nhân, hoạt động chính, số con và trình độ học vấn, và những phương diện khác,…
Khi làm trắc nghiệm thống kê tìm các mối tương quan các biến số giữa hạnh phúc và tôn giáo, người ta có kết quả chủ yếu là:
1. Có hệ quả quan trọng thuộc về tôn giáo đối với hạnh phúc. Những người theo một tôn giáo nào đó sẽ sống hạnh phúc hơn những người không có tôn giáo.
2. Tôn giáo hoặc giáo phái có hệ quả quan trọng đối với hạnh phúc. Người Tin Lành, các tín đồ Kitô giáo khác và người Công giáo cho biết họ hạnh phúc hơn người theo Chính thống giáo và các Giáo hội Đông phương.
3. Dường như có mối quan hệ tích cực giữa mức độ tôn giáo ở một người đối với hạnh phúc: Càng sùng đạo càng hạnh phúc. Tuy nhiên, những người tự coi mình là “không có tôn giáo” (0) có mức hạnh phúc tương đối so với những người có mức 5 về tỷ lệ sùng đạo.
4. Thường xuyên tham dự các nghi lễ tôn giáo cũng tương quan với hạnh phúc: những người hàng ngày tham dự các nghi lễ tôn giáo thì hạnh phúc hơn những người không tham dự.
Trầm Thiên Thu

Tôi cầu xin Chúa

Thứ Hai, 30 tháng 1, 2012


Tôi xin Chúa hãy cất khỏi tôi những đau khổ.
Chúa trả lời không. Không phải Ta là người cất bỏ nó đi, nhưng chính con phải từ bỏ nó. 

Tôi xin Chúa hãy chữa lành cho đứa con tàn tật của tôi được toàn vẹn.

Chúa trả lời không. Linh hồn của nó thì vẹn toàn, và thân xác của nó chỉ là tạm bợ mà thôi. 

Tôi xin Chúa hãy ban cho tôi sự kiên nhẫn.
Chúa trả lời không. Kiên nhẫn là kết quả từ những gian khổ; không phải là ban cho, nhưng là gặt hái được. 

Tôi xin Chúa hãy ban cho tôi hạnh phúc.
Chúa trả lời không. Ta chỉ ban cho con hồng ân. Hạnh phúc thì tùy thuộc vào nơi con. 

Tôi xin Chúa cho tôi được thoát khỏi đau khổ.
Chúa trả lời không. Ðau khổ làm cho con xa cách với thế giới, nhưng đưa con lại gần với ta hơn. 

Tôi xin Chúa cho tâm trí tôi được lớn mạnh.
Chúa trả lời không. Chính con phải tự lớn lên, nhưng ta sẽ cắt tỉa để con được trổ sinh hoa trái. 

Tôi xin Chúa hãy ban cho tôi tất cả mọi thứ để tôi vui hưởng cuộc đời.
Chúa trả lời không. Ta cho con sự sống để con có thể vui hưởng được tất cả. 

Tôi xin Chúa hãy giúp tôi yêu thương người khác giống như Ngài đã yêu tôi.
Chúa trả lời... Ah! cuối cùng thì con đã có được ý muốn đó.
Nếu con yêu Chúa, con hãy đem tình yêu này đến với mười người khác, và với người đã đem tình yêu đó đến với con.

I asked God

I asked God to take away my pain.
God said, No. It is not for me to take away, but for you to give it up.

I asked God to make my handicapped child whole.
God said, No. Her spirit is whole and her body is only temporary.

I asked God to grant me patience.
God said, No. Patience is a by-product of tribulations; it isn't granted, it is earned.

I asked God to give me happiness.
God said, No.  I give you blessings. Happiness is up to you.

I asked God to spare me pain.
God said, No. Suffering draws you apart from worldly cares and brings you closer to me.

I asked God to make my spirit grow.
God said, No. You must grow on your own, but I will prune you to make you fruitful.

I asked for all things that I might enjoy life.
God said, No.  I will give you life so that you may enjoy all things.

I ask God to help me LOVE others, as much as he loves me.
God said... Ahhhh, finally you have the idea.  If you love God, send this to ten people and back to the person that sent it.