F.X. Nguyễn Văn Thuận: Thư luân lưu Công lí và hòa bình

Thứ Tư, 7 tháng 3, 2012


Kính gửi quý Linh Mục,
Tu sĩ nam nữ, chủng sinh và toàn thể giáo dân.

Anh chị em thân mến trong Chúa Kitô,

Công lý và Hòa bình là hai danh từ mà anh chị em đều cảm thấy cao đẹp, mọi dân tộc đều khao khát.

Công lý và Hòa bình là hai danh từ mà mấy tháng nay đã khiến cho nhiều người bỡ ngỡ, vì nó đưa ra một đường lối mới, nó trình bày một chủ trương, một cơ cấu mà anh chị em chưa quen thuộc.

Để đáp lại thiện chí của anh chị em mong muốn hiểu biết rõ ràng hầu cùng ưu tư, cùng khắc khoải, cùng cầu nguyện và hành động với Hội Thánh, tôi xin nhắc lại đây: con đường tiến của Hội Thánh trong lịch sử, nguyện vọng của Công Đồng Vatican II, sự thành hình, mục đích và hoạt động của Công lý và Hòa bình.

THỜI ĐẠI MỚI ĐẦY BIẾN CHUYỂN 

Thời đại mới, đòi hỏi mới, phương pháp mới.  Công đồng Vatican II đã ghi nhận một cách xác tín: “Nhân loại hôm nay đang sống một kỷ nguyên mới của lịch sử, đánh dấu với nhiều thay đổi sâu xa và nhảy vọt đang dần dần lan đến vũ trụ” (MV.4).

“Lịch sử tiến quá nhanh, đến độ mỗi người khó theo dõi.  Cộng đồng nhân loại chỉ còn chung một vận mạng, không còn phân tán như xưa với nhiều lịch sử riêng rẽ.” (MV.5).

Chưa lúc nào con người nhiều khả năng, nhiều của cải, nhiều tài lực như hiện nay, thế mà 2 phần 3 nhân loại đang đói rách, và 700 triệu người chưa biết đọc biết viết.

Chưa bao giờ con người ý thức mãnh liệt về tinh thần hiệp nhất, tương trợ, liên đới bằng hiện nay, nhưng cũng chưa bao giờ con người bị cấu xé bởi những bất hòa chính trị, xã hội, kinh tế, chủng tộc, thế hệ, giai cấp như giờ này.

Chưa bao giờ con người khám phá địa cầu và không gian như năm nay, lúc đặt chân lên mặt trăng, nhưng cũng chưa bao giờ con người phải chán nản, cuồng loạn, xáo trộn, mất thăng bằng, hoang mang và bị đe dọa trầm trọng vì chiến tranh như ngày nay, mà con người vừa la nguyên nhân vừa là nạn nhân”.

Nhân loại như ngập chìm giữa biển tối tăm, lo âu, nhìn về Hội Thánh và hỏi:

“Hội Thánh nghĩ gì về con người?
“Hội Thánh muốn đề nghị đường hướng nào để xây dựng xã hội hiện đại?
“Đâu là ý nghĩa cuối cùng của sinh hoạt nhân loại trong thế giới? (MV.11).
Làm sao trả lời được câu hỏi ấy?

Đức Thánh Cha Phaolô VI, Đấng đại diện Chúa Kitô, Người Cha Chung của chúng ta đã vạch cho chúng ta một đường lối trong bức Thông điệp “Phát Triển các Dân Tộc”:
“Các dân tộc đói khổ hạch sách các dân tộc giàu sang” (số 3).
Ta hãy nghe tiếng của họ.

“Hội Thánh động lòng run rẩy khi nghe tiếng kêu từ niềm thao thức ấy và kêu gọi mọi người hãy vì lòng yêu thương đáp lại tiếng gọi của anh em mình” (số 3)
Họ đang ngóng chờ ta.

“Phải hành động gấp, bởi vì số người đau khổ còn quá nhiều và khoảng cách giữa những kẻ tiến người lùi ngày càng lớn” (số 29).

“Sự phát triển đòi hỏi những thay đổi táo bạo, những đổi mới sâu xa.  Phải khởi công ngay những cải cách mà không trì hoãn: mỗi người phải đại độ lãnh phần của mình” (số 32).

Khi Đức Thánh Cha vạch rõ những trách nhiệm của chúng ta, ta sẽ tham gia cách nào?  Ta dám trì hoãn không?

Không những Đức Thánh Cha Phaolô VI đã nói, nhưng Ngài đã làm, đã tiếp tục công cuộc do Đức Gioan XXIII khởi đầu.

GƯƠNG ĐỨC THÁNH CHA PHAOLÔ VI.

 Trái với tập quán của 700 năm về trước, Đức Thánh Cha Phaolô VI trong 7 năm làm Giáo Hoàng, đã 6 lần đích thân đến với thế giới.

Ngài viếng Thánh Địa, Ngài thăm An Độ nghèo đói, Ngài sang Liên Hiệp Quốc trước đại diện 121 nước để kêu gọi hoà bình, tương trợ.  Ngài sang Colombia và bán lâu đài để giúp nhân dân xứ ấy một triệu Mỹ kim, Ngài thăm Đại hội Lao Động Quốc Tế tại Genève, Ngài sang Uganda tại Phi châu.

Cử chỉ cao cả của Ngài đầy ý nghĩa.  Những chuyến đi của Ngài là những bài dạy hùng hồn.  Nhân loại ca ngợi vì đường lối và tinh thần mới do Ngài vạch ra.  Thực sự Ngài chỉ làm việc của vị Chủ chăn biết con chiên, với những phương tiện tối tân của thời đại.  Ngài đã suy nghĩ lời Đức Thánh Cha Gioan XXIII: “Nếu Hội Thánh không đến với thế giới, thì thế giới không đến với Hội Thánh.”

Hành động ấy do hồn tông đồ của Ngài thúc đẩy, vì như lời Công Đồng: “Mọi canh tân đều bắt nguồn từ nội tâm.”

NGUYỆN VỌNG CỦA CÔNG ĐỒNG VATICAN II.

Chúa Thánh Thần đã dùng Công Đồng Vatican II để đổ vào Hội Thánh nguồn sinh khí mới:  Canh tân việc huấn luyện trong Chủng viện, canh tân Phụng Vụ, canh tân các Tu hội, đời sống và việc mục vụ các linh mục, tông đồ giáo dân, thái độ hiệp nhất và đối thoại với các tôn giáo, cải tổ giáo triều có tính cách quốc tế hơn, họp Thượng Hội Đồng Giám Mục hai năm một khóa.

Vì ý thức sự quan trọng của vấn đề, trước khi chia tay nhau, các nghị phụ dự Công Đồng Vatican II đã đưa ra một nguyện vọng quan trọng:

“Để lưu tâm đến những tai ương to lớn mà hôm nay một phần lớn nhân loại là nạn nhân, và để phát triển khắp nơi công bằng cũng như bác ái của Chúa Kitô nhằm phục vụ hạnh phúc của những người nghèo, Công Đồng cho là rất đáng mong ước việc thiết lập một cơ quan của Hội Thánh đại đồng mà mục đích là thúc đẩy các người Công giáo phát triển sự mở mang các miền nghèo nàn và công bình xã hội giữa các quốc gia”.  Qua các chuyến công du, Đức Thánh Cha Phaolô VI đã đau xót nói lên: “Chúng tôi đã được tiếp xúc trực tiếp với những khó khăn ghê giớm đang bóp nghẹt hai lục địa đầy sức sống và đầy hy vọng này (Phi Châu, Nam Mỹ).  Chúng tôi thấy tận mắt và như sờ tận tay những nỗi khổ cực …” (Phát Triển các Dân Tộc, số 3).

ĐỨC PHAOLÔ VI  ĐÁP LẠI NGUYỆN VỌNG CỦA VATICAN II 

Ngày 6-7-1966, Đức Thánh Cha Phaolô VI đã thiết lập một ủy ban lâm thời, để chuẩn bị tổ chức “Hội đồng Tông đồ giáo dân và văn phòng đặc trách Công lý quốc tế”.

Ngày 6-1-1967, Đức Thánh Cha ban tự sắc “Hội thánh Công giáo Chúa Kitô” (Catholicam Christi Ecclesiam), công bố thiết lập Hội đồng giáo dân và Uy Hội Giáo Hoàng Công Lý và Hòa Bình. Để thí nghiệm, tự sắc phác họa mục tiêu, tổ chức, hoạt động của hai cơ quan.

Ngày lễ Phục Sinh, 26-3-1967, Đức Thánh Cha Phaolô VI đã công bố Thông điệp “Phát Triển các Dân Tộc” (Progressio Populorum).  Trong phần nhập đề, Ngài dạy rõ:
“Sau hết, vừa rồi đây, để thể hiện nguyện vọng Công Đồng và cũng để mọi người thấy Tòa thánh ủng hộ chính nghĩa của các dân tộc đang cố gắng phát triển như thế nào.  Chúng tôi thấy có bổn phận phải thiết lập tại Giáo Triều Roma một Ủy ban trực thuộc Giáo Hoàng có nhiệm vụ “làm cho toàn thể Dân Chúa ý thức trọn vẹn được vai trò mà thời đại hiện tại đang đòi hỏi ở mình, giúp các dân tộc nghèo được thăng tiến: làm cho có sự công bằng giữa các dân tộc, viện trợ cho các dân tộc kém mở mang, để họ có thể phát triển.  “Công Lý và Hòa Bình là tên và là chương trình của Uỷ ban này” (Phát triển các dân tộc, số 5).

Như vậy anh chị em thấy là chính Đức Thánh Cha Phaolô VI đã lập ra tổ chức này.

TINH THẦN VÀ MỤC TIÊU CỦA CÔNG LÝ VÀ HÒA BÌNH

Trong huấn từ ban cho Uỷ ban Công Lý và Hòa Bình, ngày 21-4-1967, Đức Thánh Cha đã phác họa một cách rõ rệt tinh thần và mục tiêu của Công Lý và Hòa Bình:  “… Trước mắt Cha, các con tiêu biểu nguyện vọng cuối cùng của Công Đồng Vatican II thực hiện (MV.90).  Như ngày xưa và ngay cả bây giờ, mỗi khi ngôi Thánh đường hoặc tháp chuông đã hoàn thành, người ta đặt trên nóc nhà hình con gà trống.  Hình ảnh này tượng trưng đời sống Công giáo.  Cũng giống thế, được đặt trên ngôi nhà thiêng liêng của Công Đồng, Uỷ Ban này không có nhiệm vụ nào khác bằng gìn giữ con mắt của Hội Thánh thức tỉnh, quả tim của Hội Thánh rung cảm và bàn tay của Hội Thánh sẵn sàng đưa hành động bác aí đến với thế giới, như nhiệm vụ của Hội Thánh đòi hỏi, ngõ hầu xúc tiến phát triển các dân tộc nghèo khổ, và cổ vũ thực hiện công bình xã hội giữa các quốc gia.”

NGƯỜI CÔNG GIÁO PHẢI Ý THỨC TRÁCH NHIỆM CỦA MÌNH

Nhiều người công giáo nghĩ rằng đi nhà thờ, xem lễ, đọc kinh, làm tuần cửu nhật là chu toàn phận sự một người Công giáo tốt.

Nhưng Chúa Giêsu dạy: “Không phải kẻ nói: Lạy Chúa, Lạy Chúa là được cứu rỗi, chỉ có kẻ thực hiện Thánh ý Chúa Cha mới được cứu rỗi”.  Lại đến ngày tận thế, Chúa sẽ phán xét: “Ta đói các con đã cho ăn; Ta khát các con đã cho uống; Ta lữ hành các con đã đón nhận; Ta rách rưới, các con đã cho áo mặc; Ta yếu liệt, các con đã viếng thăm; Ta ở tù, các con đã đến với Ta … Ta nói thật cho các con, khi đối xử như thế với người hèn mọn nhất trong anh em, thì các con  đã làm cho chính mình ta vậy” (Mt.25, 31-40).
Vì muốn vạch con đường sống đạo và hành đạo ấy cho giáo dân mà Hội Thánh, trong lúc ban hành thể thức mới về cách hướng các ân xá, đã ban ba cách Ân xá, có ý giúp giáo dân làm cho những việc thường ngày trong đời sống họ được thấm nhuần tinh thần Chúa Kitô:

Ân xá thứ nhất ban cho giáo dân nào khi làm việc bổn phận và chịu khốn khổ ở đời này mà có lòng khiêm tốn trông cậy Chúa và cầu nguyện, dầu trong tâm hồn cũng được.

Ân xá thứ hai ban cho giáo dân nào vì Đức Tin mà xả thân thí của với lòng nhân ái để giúp anh em lâm cơn ngặt nghèo.

Ân xá thứ ba ban cho giáo dân nào vì muốn đền tội mà tự ý kiêng bỏ một điều mình được phép làm mà mình thích thú.

Khi vạch đường lối mới này, Hội Thánh muốn cho giáo dân không tìm sự thánh thiện viển vông, ngược lại, giáo dân phải hiểu rằng: việc họ làm thường ngày ở công sở, ngoài thị trường, ngoài đồng áng đều là “nối tiếp công việc của Đấng Tạo thành, tham gia vào việc thực hiện chương trình Thiên Chúa trong lịch sử”. Bởi vì sứ điệp Kitô giáo, thay vì làm cho con người dửng dưng trước những nhu cầu công ích của anh em đồng loại, thì trái lại, thúc đẩy con người coi đó là nhiệm vụ rất khẩn trương (MV.34).

Mỗi khi người Công giáo “lãng quên bổn phận đối với đồng loại, tức quên bổn phận đối với Chúa, và làm như thế là nguy hại cho phần rỗi đời của mình”.  Tôi xin nhắc lại đây một lần nữa giáo huấn rất mãnh liệt và rõ rệt của Công Đồng: “Tách rời Đức Tin và sinh hoạt nhân loại hằng ngày của nhiều người phải kể là một trong những sai lầm lớn của thời đại chúng ta.  Chúng ta chớ dựng lên bức tường giả tạo giữa sinh hoạt nghề nghiệp hay xã hội với đời sống tôn giáo” (MV.43).  Chúng ta hãy tĩnh thức để thức tĩnh kẻ khác. Nếu người Công giáo không ý thức trách nhiệm của mình.  “Nếu đời sống đạo của họ chỉ thu hẹp trong nhà thờ với vài việc đạo đức thì lầm lạc lắm”, và công việc canh tân của Công Đồng Vatican II vô ích.  Anh chị em hãy theo lời Đức Thánh Cha: “giữ con mắt Hội Thánh tỉnh thức” để nhìn các dấu hiệu của thời đại.

MỖI NGƯỜI VÀ MỌI NGƯỜI CÔNG GIÁO CÓ BỔN PHẬN ĐEM HỘI THÁNH VÀO TRONG THẾ GIỚI NGÀY NAY

Anh chị em thân mến trong Chúa Kitô,

Đức Chúa Cha đã yêu thương trần gian và sai Con Một Ngài đến cứu trần gian.  Công việc cứu chuộc vẫn tiếp tục.  Như Chúa Kitô, Hội Thánh phải nhập thế, mà Hội Thánh không phải chỉ là Đức Thánh Cha hay giáo triều La Mã.  Hội Thánh là tất cả Dân Chúa dưới quyền lãnh đạo của Đức Thánh Cha, đại diện Chúa Kitô.  Riêng đối với giáo dân, anh chị em phải nhận định rõ nhiệm vụ đem Hội Thánh vào trong thế giới ngày nay.
Trong sắc lệnh Tông Đồ giáo dân (số 1), Công Đồng nhắn nhủ thiết tha: “Hoàn cảnh hiện tại bắt giáo dân phải hoạt động tông đồ cách rộng rãi và mạnh mẽ hơn.  Thực vậy, dân số càng ngày càng tăng: khoa học và kỷ thuật tiến bộ; mối liên đới giữa người với người thêm chặt chẽ.  Nhưng điều đó không những mở rộng tới vô tận môi trường tông đồ của người giáo dân, môi trường này một phần lớn chỉ có họ (giáo dân) mới đi vào được, nó còn nẩy ra nhiều vấn đề mới, đòi hỏi họ đặc biệt quan tâm và nghiên cứu”.

            Hoặc người Công giáo sẽ đem Hội Thánh vào trong thế giới.
            Hoặc người Công giáo để Hội Thánh sống bên lề thế giới.
            Hoặc các phương tiện tối tân của thời đại sẽ phục vụ công cuộc của Hội Thánh.
            Hoặc chính các phương tiện của phát minh khoa học thời nay trở lại làm khí cụ trở ngại cho hành động cứu rỗi của Hội Thánh.

            Anh chị em phải làm gì?

Người Công giáo chân thành phải khiêm tốn, can đảm và hiện diện trong xã hội.  Trong Thông điệp “Hòa bình thế giới”, Đức Gioan XXIII đã dạy cách thiết thực: “Các hiền tử của ta sẽ không được tự mãn, vì cho rằng mình đã được ánh sáng đức tin, hay là đang ôm ấp một hoài bão được làm việc thiện.  Nhưng họ còn phải có mặt trong các chế độ xã hội và từ bên trong, họ phải gieo ảnh hưởng vào các cơ cấu ấy nữa” (số 81).

Có đức tin nhờ lời giảng dạy, nhưng anh chị em hãy thử xét, mỗi tuần nghe giảng nửa giờ, còn mỗi ngày mười mấy giờ, và mỗi tuần bảy ngày, con cái anh chị em, nghe bao nhiêu câu chuyện, bài hát, nghe đài quốc nội và quốc tế, có khi vô ích. Hơn thế nữa trong hai năm, số vô tuyến truyền hình ở Việt Nam đã lên đến 350,000 chiếc, mỗi tháng có 20 phút của Công giáo.  Còn các chương trình khác? Hiện giờ thật đáng khen những cố gắng của chuyên viên, nhưng nếu ta không quan tâm, trong tương lai, có thể suốt 30 ngày, mỗi ngày 20 giờ, con cái ta sẽ bị đầu độc.  Không ai không đau khổ vì nạn cao bồi, du đãng, hippi, gia đình tan vỡ, ly dị, thiếu niên phạm pháp (có luật sư trong một năm đã phải xử đến 100 vụ ly dị và cũng chừng ấy vụ thiếu niên phạm pháp).  Một viện bảo sanh lớn ghi trong thống kê năm 1967, 12,841 trẻ sơ sinh, nhưng trong số ấy có 4,470 khai theo họ cha, còn 8,371 trẻ phải khai theo họ mẹ.  Nghĩa là cứ 100 trẻ thì chỉ có 30 đứa trẻ có cha mẹ kết hôn đàng hoàng thôi.  Đó là xã hội Việt Nam (1967) chứ không phải Âu Mỹ đâu xa.

Nhiều lãnh vực xã hội trở nên xa xăm, biệt lập, đối với những hạng người ấy, những công việc ấy lắm lúc chúng ta có thái độ lãnh đạm, nếu không phải là khinh miệt, bỏ rơi, lên án, vô trách nhiệm.  Nhưng nếu ta vắng mặt, ta không có tiếng nói thì ai sẽ cứu rỗi họ, và nếu đến với họ là tiên tri giả, là muông sói mặc lốt chiên, thì số phận họ khốn khổ quá, đáng thương quá!

Ở đây tôi không có ý làm một bảng thống kê, nhưng tôi muốn nêu lên một ít con số để anh chị em lại gần thực tế và giúp anh chị em suy nghĩ.

Năm 1969 dân số Việt Nam 17,867,000 người, trong số đó:
-         Có 5,628,271 thiếu niên dưới 18 tuổi với tỷ số 33.1% với toàn dân.
-        Có 2,267,412 học sinh tiểu học, 570,627 học sinh trung học, 39,944 sinh viên đại học, 1,096,000 binh sĩ, độ 300,000 thanh niên du đãng, 300,000 gái mãi dâm, 250,000 công nhân sở Mỹ. 

Xã hội Việt Nam ta còn giữ được một hình thức lễ độ, khuôn phép, nhưng với số người đứng tuổi dần dần ra đi và thế hệ mới đang lên, Hội Thánh có đi sâu vào cái thế giới Việt Nam này không? Có thấm nhuần lòng người dân Việt Nam không? Có nhập vào cuộc sống của người Công giáo Việt Nam không?

Chúng ta xin cho “Nước Cha trị đến”, Chúa đã ban ơn, còn ta, ta làm gì? Ơn Chúa ở trong ta đã vô ích rồi sao?

Chúng ta ước mong và cầu nguyện cho Hòa bình, nhưng người Công giáo đã chuẩn bị Hòa Bình chu đáo chưa?  Với một số binh sĩ sẽ giải ngũ, với mấy mươi vạn công nhân thất nghiệp, với từng vạn sinh viên tốt nghiệp đại học không đủ công sở, xí nghiệp, kỹ nghệ, thì cảnh nghèo khó bần cùng, chia rẽ, tranh chấp, trộm cướp, trụy lạc, sẽ là một nỗi đe dọa khủng khiếp cho nền văn minh, cho luân lý, cho toàn dân Việt Nam.  Cầu nguyện cho Hòa bình mà không suy nghĩ, không lo lắng là thử phép Chúa.  Kinh cáo mình mới có câu: “và những điều thiếu sót”, có khi đó là điều trọng và nhiều nữa.  Anh chị em hãy nghe lời Đức Thánh Cha: “Không ai có quyền thản nhiên nhìn số phận của con người anh em mình đang chìm đắm trong bần cùng, đang bị ngu dốt dày vò, đang khổ cực vì thiếu an ninh.  Người tín hữu cũng phải chạnh lòng như Chúa Kitô, Đấng đã nói rằng: “Ta thương xót quần chúng” (Nc. 8.2).  Tất cả mọi người cùng thành tâm khẩn cầu Thiên Chúa cho nhân loại, một khi đã ý thức được những tai họa to lớn ấy thì để lòng trí mà tìm cách đẩy lui nó (Td. Phát Triển các dân tộc 74,74).  Anh em hãy trở nên quả tim của Hội Thánh, biết rung cảm trước cảnh tượng đau xót ấy.

NGƯỜI CÔNG GIÁO PHẢI LÀM MỘT CUỘC CÁCH MẠNG XÃ HỘI

Đứng trước một tương lai quá mù mịt, những vấn đề quá bao la và phức tạp, lòng anh chị em rung cảm vì xót xa.  Tiếng Đức Thánh Cha kêu gọi lại càng thúc bách:
 “Sự phát triển đòi hỏi những thay đổi táo bạo, những đổi mới sâu xa, phải hành động gấp, bởi vì số người đau khổ còn quá nhiều …”

Cuộc cách mạng xã hội ấy, Đức Thánh Cha tóm lại trong danh từ “phát triển”.

Một điều tối quan trọng là phải hiểu đùng nghĩa tiếng phát triển.  Người ta thường hiểu: phát triển nghĩa là làm cho giàu có (enrichissement); hoặc là làm tăng giá trị nhờ các phương pháp khoa học (mise en valeur), hoặc khuếch trương bành trướng (expansion); hay là năng suất tối đa (maximation).  Tất cả quan niệm ấy chỉ nhắm bên ngoài, chỉ chú ý đến “số lượng”, mà không quan tâm đến giá trị con người toàn diện và tất cả mọi người.

“Phát triển” theo ý Đức Thánh Cha Phaolô VI là thăng tiến con người toàn diện, và thăng tiến mọi người, thăng tiến mọi quốc gia, mọi tầng lớp xã hội.

“Trong ý định của Thiên Chúa, mỗi người sinh ra là để được phát triển, vì mỗi đời sống là một sứ mạng” (số 15).

Đi cho đến cùng, phát triển không thể rời khỏi ơn thiên triệu, nghĩa là tiếng Chúa gọi con người thăng tiến ngày càng “giống hình ảnh Con Một Chúa Cha” (Rm 8.29).
Một nền nhân bản siêu việt làm cho con người sống đầy đủ tột độ cũng chưa đủ làm sao cho con người phát triển toàn diện, tuy là tốt đẹp và đáng mong lắm.  Anh chị em hãy xem nước Nhật, Thụy Điển, là những quốc gia có tổ chức xã hội hoàn bị nhất, số con trong gia đình ít nhất, mà cũng lại là nơi có tỉ số tự tử cao vào bậc nhất.

Phát triển chân chính là sống “ra người hơn” theo thiên nhiên phú bẩm cho ta và ơn thánh sủng Chúa đã đổ vào tâm hồn ta.

Phát triển như thế đã trở nên một bổn phận.  Bổn phận mỗi cá nhân, mỗi dân tộc, phải làm lợi những tài đức (Phúc Âm gọi là nén bạc) Chúa đã trao cho.  Ngày trước Đức Piô XII đã dạy:  “Phải làm cho nhân loại từ một thế giới man rợ đến một thế giới xứng với con người đến  một thế giới xứng với con Chúa.”

NHỮNG TRỞ NGẠI CHO VIỆC PHÁT TRIỂN 

1 – Tham lam

Đối với giáo dân cũng như dân tộc, mục đích tối hậu của phát triển không phải là thêm nhiều của; tuy nhiên chúng ta công nhận của cải vật chất cần cho con người được an ninh, tự do và hân hoan nẩy nở.

Dù thế, con người còn tham lam quá độ, lúc ấy “lòng con người trở nên chai đá và khép kín lại, con người không còn đến với nhau vì tình nghĩa nhưng chỉ vì lợi lộc, lợi lộc đã làm cho con người chống đối nhau và chia rẽ nhau” (Td. Phát Triển. 19)
Anh chị em thấy đủ mọi hình thức tham lam: tham lam của cá nhân, tham lam của đoàn thể, tham lam của giai cấp xã hội, tham lam của các quốc gia.  Con người là đồng thủ phạm và là tù nhân của sự tham lam ấy.

Anh chị em thân mến trong Chúa Kitô,

Là dân Chúa, anh chị em hãy suy nghĩ, hãy tự vấn lương tâm, hãy góp phần xây dựng hòa bình an lạc cho đất nước, nhưng nếu “thượng hạ giai chinh lợi” tham nhũng, bất công bằng bất cứ hình thức nào, công khai hay âm thầm, có tổ chức khoa học hay lộ liễu, đều là những tội đối với đồng bào và kêu đến tận trời.  Thánh Gioan dạy: “Kẻ có của cải trên đời, nếu thấy anh em mình túng bấn mà khóa lòng dạ lại, không thương nó, thì lòng mến Chúa ở trong kẻ ấy thế nào được?” (1 Gio. 3,12).

Anh chị em hãy sống tinh thần thanh bần của Phúc âm và hãy nhớ lời khuyên bảo đơn sơ và xác thực của Đức Gioan XXIII: “Các con đừng nghĩ đến mình vì các con sẽ thấy mình thiếu nhiều, các con hãy nhìn đến kẻ nghèo khổ, rồi các con sẽ nhìn thấy mình còn nhiều của dư thừa và xa xỉ” (triều yết 11-9-1962).

2- Tinh thần duy vật

Khi mãi tìm tiện nghi và của cải, con người sẽ mù quáng và quên bỏ các giá trị thiêng liêng.  Đó là duy vật thực tế, sống  động mà xã hội ta đã khởi sự hô hấp, và mỗi ngày từ Âu Mỹ tràn ngập sang.  Thật là điên dại đối với con người và các dân tộc trong lúc “vì ham sống vật chất mà hy sinh lý do của cuộc sống” (Td. Phát Triển, 40).

Những chiến dịch chống nạn đói, chống bệnh tật, mù chữ, rất hữu ích.  Nhưng nếu nó cũng mang theo các tệ đoan duy vật thì vô tình nó đầu đôc dân chúng.

Nếu phát triển chỉ nhắm mặt kinh tế, vật chất, thì nền nhân bản ấy chỉ có thể thắng lợi ngoài bì phu.

 3- Bạo động

Giữa căng thẳng của cơn khủng hoảng hầu như không lối thoát, con người dễ bị lôi cuốn phản ứng bạo động.

 Hội Thánh đã tố cáo những “tình trạng bất công kêu tận trời” mà lại cấm bạo động sao?

Xin thưa, Hội Thánh khuyên tránh “những cuộc nội loạn và cách mạng làm cho thêm bất công, đem đến chênh lệch và gây thêm tàn phá” (Phát Triển, 31).
Nhưng chúng ta cũng không quên rằng Đức Thánh Cha cho là hợp lý trong “trường hợp để đánh đổ một chế độ độc tài rõ rệt và kéo dài quá lâu, làm thương tổn nặng nề đến những quyền lợi căn bản của con người, vốn nguy hại lớn cho ích chung của xứ sở”.

Hội Thánh không dạy chấp nhận cách nhẫn nhục các bất công, ngược lại, dạy cách rõ rệt: “Tình trạng hiện tại phải được đương đầu một cách can đảm, những bất công phải được dẹp tan và lướt thắng, những cải cách khẩn cấp phải được áp dụng không trì hoãn” (Td. P.T; 32).

Tiếng nói đanh thép của Đức Thánh Cha kêu gọi, tỉnh thức tinh thần trách nhiệm của anh chị em, thay vì tặng quà, giúp đỡ với tinh thần trên dưới, giàu nghèo, quan thầy với bầy tôi, anh chị em hãy hòa mình vào cuộc sống của họ, chia sẻ nỗi khổ nhục của họ, giúp họ tìm lại phẩm giá và khả năng.

Làm như thế chúng ta tự giúp mình thoát khỏi tình trạng kém mở mang thiêng liêng, xã hội và công dân.

Xin anh chị em tự hỏi mình: “Tôi đã sống xứng với tiếng gọi của Chúa chưa?”

Phát triển toàn diện phải đi liền với phát triển toàn thể nhân loại.

Một chi thể phải yếu đau thì toàn thân phải cực khổ.      
     
Muốn đạt mục tiêu phát triển toàn diện và liên đới;  Đức Thánh Cha Phaolô VI nêu lên 3 khía cạnh của bổn phận:

a-  Bổn phận liên đới

Anh em của tôi là người không cơm ăn, không áo mặc, là người mù chữ, là người thất vọng.

“Chống bần cùng, tuy cấp bách và cần thiết nhưng không đủ.  Vấn đề chính là thiết lập một xã hội, trong đó mỗi người, không phân biệt nòi giống, tôn giáo, quốc tịch, có thể sống một đời sống đầy đủ là con người” (Phát Triển, 47).

Liên đới không phải chỉ là bổn phận giữa cá nhân với cá nhân, mà còn là bổn phận giữa dân tộc với dân tộc.

Trí khôn nhân loại đã đẩy lui các biên giới của vũ trụ: không gian và đại dương đã mở các bí mật cho con người; bệnh tật đã đầu hàng trước khám phá và tiến bộ lạ lùng của khoa học, kỹ thuật.  Nhưng còn nạn đói là thảm kịch xưa nhất, mà cũng là thảm kịch của thời đại.  Tương lai của văn minh và hòa bình thế giới bị đe dọa nặng nề, vì như nhà bác học dinh dưỡng trứ danh Josué de Castro nói: “ Người ta làm ra nạn đói”.  Xâm lăng, trở ngại của thiên nhiên, ngu dốt không sử dụng kỹ thuật tối tân, mê tín theo một số tục lệ tôn giáo, độc quyền của một số quốc gia trên các nguyên liệu, tạo ra đói khổ: trong 3 người trên thế giới có hai người đói.  Hằng năm có 20 triệu người chết đói, và trên thế giới có 500 triệu người không bao giờ no.  Đức Thánh Cha nói: “Đây là vấn đề sống còn của các dân tộc nghèo, của sự hòa hợp dân tộc trong các nước kém mở mang và của hòa bình thế giới” (Phát Triển, 55). 

b-  Bổn phận công bình xã hội

Để thực hiện bổn phận liên đới, Đức Thánh Cha Phaolô VI đã hô hào, giúp đỡ nhiều chính trị gia, nhiều nhà kinh tế học trên con đường chống nạn đói, dành phần dư thừa của nước giàu đem giúp các nước nghèo.  Tại Bombay, Ngài đã kêu gọi thiết lập một ngân quỹ quốc tế, đóng góp bởi một phần kinh phí, để đem giúp các nước đói kém nhất.  Trên thực tế đã có nhiều tiến bộ, các nước dần dần ý thức tham gia.  Nếu không có các biện pháp ấy thì tuyên ngôn nhân quyền, kêu gọi hòa bình, chỉ là ảo tưởng và giả hình.

Nhưng tất cả các biện pháp ấy phải đặt trên công bình xã hội, nếu không, “các nước nghèo sẽ hết tín nhiệm ở nước giàu khi họ có cảm tưởng là tay này cho, tay kia lấy lại” (Phát Triển, 56).

Sự cạnh tranh thương mãi vô lương tâm, kẻ yếu bị bóc lột và chấp nhận điều kiện của kẻ mạnh, là “chế độ của con cáo tự do trong chuồng gà tự do”.

Nếu chủ nghĩa tự do cạnh tranh thương mãi vi phạm công bình xã hội, thì chúng ta cũng không quên chủ nghĩa quốc gia quá khích và chủ nghĩa chủng tộc quá khích.  Nó tạo nên tủi nhục, hận thù, chia rẽ, tranh chấp ngay giữa lòng các dân tộc; công lý, cuộc sống an bình và sinh mạng bị đe dọa, nhất là khi có tranh chấp vụ lợi bên ngoài nhúng tay vào.  Nigeria Biafra là nạn nhân điển hình: trên 2 triệu người chết đói trong hai năm nay vì tranh chấp bộ lạc, vì giành giựt dầu hỏa.

Công lý là tôn trọng lẫn nhau.  Muốn có công lý ta hãy tự đặt mình vào địa vị của người kia.  Công lý chỉ được hoàn hảo khi đi đến chỗ thiện cảm với nhau, thân thiết với nhau.

c– Bổn phận bác ái huynh đệ

Đức Thánh Cha Phaolô VI nhận định: “Xã hội loài người đau đớn trầm trọng.  Nguyên nhân của bệnh tình này không phải là tài nguyên của thiên nhiên kiệt quệ hay lòng tham của một số người vơ vét, mà chính là thiếu tình huynh đệ giữa người với người, cũng như giữa dân tộc với dân tộc” (Phát Triển, 66).

Chỉ có tình bác ái huynh đệ mới tiêu hủy được những nguyên nhân của bất công, của tội ác, của khốn cùng.

Chỉ có tình bác ái huynh đệ mới ngăn cản được “sự tiến bộ của những người này khỏi thành trở ngại cho sự phát triển của những người khác”.  Vì đó là dấu hiệu của sự bất công tận gốc rễ.

Tính bác ái huynh đệ ấy phải được thực hiện đối với lớp người trẻ cần được tiếp đón, đối với những người di dân cần được nâng đỡ.  Tình bác ái huynh đệ ấy phãi được thực hiện bởi các nhà kinh doanh, những chuyên viên đi giúp phát triển ở nước ngoài.
Tình bác ái huynh đệ ấy phải được thực hiện qua các hiệp ước quan trọng giữa các quốc gia.

Tình bác ái huynh đệ ấy chỉ được thành hình và tồn tại khi công nhận một uy quyền quốc tế hữu hiệu, một cơ cấu pháp lý để chuẩn bị, phối hiệp và điều hành.

Không có bác ái huynh đệ thì không thể nào xây dựng hòa bình chân chính và vĩnh cửu được.  Các dân tộc ngày càng khó chịu các nỗi bất công, và sự giận dữ của họ đã rung động thế kỷ 20 này!  Các dân tộc giàu đã xung đột nhau trong thế kỷ 20 này cũng vì mâu thuẫn trong việc phát triển, vì họ nhằm phát triển thế lực thay vì phát triển nhân đạo.  Ông René Maheu, Giám đốc cơ quan văn hóa quốc tế Unesco đã nói: “Phát triển là một trạng thái tinh thần, nhất là, phát triển là một việc của lương tâm” (Tuyên ngôn 19-4-1967).

Đức Thánh Cha đã trưng lời văn hào Nicolas Bardiaeff, rất đáng cho ta suy nghĩ: “Bánh tôi ăn là vấn đề vật chất, bánh tôi cho anh em là vấn đề thiêng liêng” (Huấn từ 20-4-1967).

Nhân loại không mua hòa bình bằng bác ái huynh đệ thì phải trả giá hòa bình rất cao bằng sự khủng khiếp.  Ngay từ 1963, nghĩa là 7 năm trước đây, người ta tính rằng khối bom nguyên tử của thế giới lên tới 320,000 megatôn (mỗi megatôn là một triệu tấn).  Nếu đem chia ra cho nhân loại trên thế giới thì mối người được 10 tấn.  Đang lúc 2 phần 3 nhân loại đói thì mỗi giờ chiến tranh tiêu thụ hết 14 tỉ Mỹ kim.  Với giá một chiếc oanh tạc cơ thôi, người ta có thể xây 75 bệnh viện, mỗi cái có 100 giường, tặng 50,000 chiếc máy cày cho các nước kém mở mang, săn sóc tất cả các người phong cùi trên thế giới và trả lương cho 250,000 giáo viên trong một năm.

Anh chị em thân mến trong Chúa Kitô,

Tôi chắc anh chị em hiểu vì sao mà Đức Thánh Cha kêu gọi hòa bình, vì sao người sáng lập Công Lý và Hòa Bình, và tinh thần của Công Lý và Hòa Bình là gì?

Xin anh chị em hãy nghe lời Đức Thánh Cha tha thiết mời gọi:

“Giờ hành động đã điểm … Hết thảy mọi người và hết thảy mọi dân tộc đều phải lãnh lấy trách nhiệm… Người Công giáo phải sẵn sàng đứng đầu hàng ngũ những kẻ không từ chối một cố gắng nào để xây dựng, trong thực tế, một nền luân lý quốc tế hợp đạo công bình” (Phát Triển, 81).

Đức Thánh Cha đã kêu gọi các Hội Đồng Giám Mục, các Chủng viện, các Đại học, các Hội Đồng, các nhóm nghiên cứu, mọi đoàn thể giáo dân, đặc biệt giới trẻ, trong chương trình học vấn, trong các cuộc tĩnh tâm, giảng thuyết, dạy giáo lý, phải “học hỏi để hành động” (étude pour l’action).

Đức Thánh Cha dạy cũng phải hợp tác chặt chẽ với các tôn giáo bạn, với các tổ chức quốc gia và quốc tế để học hỏi và hành động cho công lý và hòa bình.

 Anh Chị em thân mến trong Chúa Kitô,

Tôi chân thành cám ơn các anh em trong chức Linh Mục, các tu sĩ, các chiến sĩ đã hy sinh nhiều cho Công Lý và Hòa Bình trong năm qua.  Tôi xin dùng tiếng của Đức Thánh Cha Phaolô VI: “Có thể nói anh em là tông đồ của công cuộc phát triển và hữu ích” (Td. Phát Triển, 86).

Trong niềm tin tưởng vô biên của ơn Chúa và lòng từ ái của Đức Mẹ Maria, chúng ta hãy hy sinh cầu nguyện và dấn thân phục vụ trong năm mới 1970.

Xin Thiên Chúa Ba Ngôi ban phúc lành cho anh chị em và xin cầu nguyện cho tôi.

Nha Trang, ngày 1 thang 1 năm 1970
Ngày Quốc Tế Hòa Bình
+ Phanxico X. Nguyễn Văn Thuận

Giáo Hội phải chống lại dối trá và lừa gạt

Thứ Bảy, 3 tháng 3, 2012

Vatican City (VIS) - Năm nay, việc giảng tĩnh tâm cho Đức Thánh Cha và Giáo Triều sẽ được hướng dẫn bởi Đức Hồng Y Laurent Monsengwo Pasinya, Tổng Giám Mục của Kinshasa, Cộng hoà Dân chủ Congo, ngài tập trung vào chủ đề "sự hiệp thông của các Kitô hữu với Thiên Chúa". Bắt đầu bằng dấu thánh giá, Đức Hồng Y đã suy tư rằng Thiên Chúa là ánh sáng, sự thật, lòng khoan dung và là người dẫn đường yêu thương, sau đó chuyển sang suy xét về tình yêu của thế giới, sự thiếu đức tin vào Chúa Kitô và tội lỗi của các linh mục.


Dấu thánh giá hơn cả một thói quen, nó là một "hành vi qua đó chúng ta làm tăng thêm sự chói lọi của kiến thức và tính năng động của tự do cho mỗi hành động của chúng ta". Nó là một dấu chỉ với ý nghĩa là "sự hy sinh cho tình yêu. Đó là sự chết cho phục sinh". Vì vậy, nó ngụ ý từ bỏ sự phù phiếm, thanh thế, chiếm hữu, thống trị, và thánh hóa các hoạt động của chúng ta cho Chúa Kitô.

Trong bối cảnh những suy ngẫm của ngài về Thiên Chúa là đường, sự thật, và là sự sống, Đức Hồng Y Monsengwo Pasinya đề cập đến một số các sự kiện kịch tính nhất thời đại chúng ta, chẳng hạn như chiến tranh, diệt chủng, bạo lực chính trị, phá thai và tất cả các hình thức thao túng của con người . Ngài cũng mời gọi thính giả của ngài không thờ ơ "đối với sự đàn áp và bóc lột của con người đối với con người", và không hạ thấp cảnh giác, "ngay cả những mầu nhiệm sự dữ ở xa chúng ta".

Đức Hồng Y cho hay: "Chúng ta phải bước đi trong ánh sáng. Nói cách khác, chúng ta phải lựa chọn để từ bỏ tội lỗi" và để cho Sự Thật biến đổi đời sống chúng ta thông qua hành trình hoán cải. Hiểu biết Thiên Chúa là Sự Thật mang tầm quan trọng đặc biệt đối với người "không có nhận thức về tội lỗi của mình, đối với người bị mất cảm giác tội lỗi vì họ không đặt bản thân mình vào vấn đề của Thiên Chúa", và đối với người không có tiêu chuẩn đạo đức và nhầm lẫn giữa thiện và ác. Xu hướng này liên quan đến "sự thờ ơ tôn giáo, vốn khẳng định rằng tất cả các tôn giáo là như nhau, nhưng thực tế là tìm kiếm một nền luân lý lỏng lẻo".

Đức Hồng Y cảnh báo rằng các linh mục cũng không thoát được những lỗi này, "trong chừng mực khô khan tinh thần dẫn họ vào những khiếm khuyết tượng tự. Do đó, thừa tác vụ linh mục chỉ đơn thuần trở thành chức năng và không mang ý nghĩa thực sự của Thiên Chúa". Đức Tổng Giám Mục của Kinshasa cũng sử dụng ví dụ về các Tông Đồ Phêrô và Giuđa. Tông Đồ Phêrô "bộc lộ sự quảng đại, sự gắn bó với Chúa Kitô của mình, tuy nhiên, ngài đã sa ngã do thiếu thận trọng và đưa bản thân vào chốn nguy hiểm, dù ngay lập tức ngài từ bỏ chốn sa ngã và đau buồn trong cay đắng về tội lỗi của mình". Đây là một bài học cho tất cả các linh mục. "Sự quảng đại của chúng ta không bảo vệ chúng ta thoát khỏi tội lỗi. Chúng ta phải thận trọng, và đừng bất cẩn đặt mình vào khả năng sa ngã. Trong tất cả các tình huống, bất cứ điều gì xảy ra, Chúa luôn ở bên cạnh chúng ta. Sự sỉ nhục lớn nhất chúng ta có thể tỏ rõ với Ngài là nghi ngờ lòng thương xót của Ngài, như Giuđa đã làm".

Đức Hồng Y cho biết: "Sống trong sự thật là sống theo Tám Mối Phúc Thật. Nghĩa là khước từ những điều dối trá trong lời nói và hành động của chúng ta. Nghĩa là chối từ thứ đạo đức giả vốn đẩy chúng ta bộc lộ khác với bản chất vốn có". 


Giáo Hội cũng phải chống lại sự dối trá và lừa gạt, cả trong Giáo Hội và trong thế gian, và đấu tranh "để người ta biết và sống với sự thật của Tin Mừng Chúa Kitô".


http://vietcatholic.net/News/Html/96213.htm

Chúa nhật I mùa Chay: Đừng chết vì những lời đường mật!

Thứ Bảy, 25 tháng 2, 2012

Lm JB Phạm Quang Long

Cứ đến tuần I mùa Chay, chúng ta lại đọc câu chuyện Chúa Giê-su chịu cám dỗ. Tin mừng thánh Marco hôm nay chỉ nói vắn gọn: “Người ở trong sa mạc 40 ngày, chịu satan cám dỗ, sống giữa loài dã thú và có các thiên thần hầu hạ người”.


“Người ở trong sa mạc 40 ngày, chịu satan cám dỗ”. Câu ngắn ngủi này gợi nhớ về biến cố xuất hành. Khi ra khỏi Ai Cập, dân Do Thái đi trong hoang địa Sinai 40 năm, ở đó họ đã gặp những thử thách cam go về lòng trung thành với Thiên Chúa (x. Xh 16,1-4; 17,1-17; Đnl 8,2).

Chi tiết “Người sống giữa loài dã thú” làm ứng nghiệm lời tiên báo của Isaia về thời đại Messia: “Sói sống chung với chiên, beo nằm bên dê nhỏ, sư tử với bê ở chung một chuồng, và một đứa trẻ dẫn chúng đi ăn” (11,6). Điều này làm sống lại hình ảnh tốt đẹp thuở ban đầu ở vườn địa đàng, nơi đó con người và sinh vật sống hài hòa với nhau (x. St 2,18-20).

Còn chi tiết “các thiên sứ hầu hạ Người” muốn nói đến việc Thiên Chúa hiện diện và cứu giúp.

Như vậy, Đức Giêsu gặp lại những cám dỗ mà Israel xưa kia đã phải chịu trong hoang địa Sinai, nơi mà Israel đã thất trung với Thiên Chúa, thì Chúa Giêsu, như một Môsê mới, đã trọn vẹn trung thành. Đức Giêsu hoàn tất cuộc Xuất hành mới và lập thành dân mới của Thiên Chúa.

Đó là ý nghĩa của đoạn Tin mừng chúng ta vừa nghe.

Đoạn Tin mừng gợi ý cho chúng ta suy niệm về Đức Giê-su với tư cách là một con người. Đức Giê-su giống chúng ta mọi đàng, chỉ trừ tội lỗi: Ngài cũng bị cám dỗ như chúng ta, nhưng Ngài không nghe theo chước cám dỗ.

Tôi nhớ đến bộ phim “Cơn cám dỗ cuối cùng của Đức Kitô” ( The last temptation of Christ). Bộ phim, được sản xuất năm 1989, phỏng theo tiểu thuyết cùng tên của nhà văn Hy lạp Nikos Kazantzakis, vốn đã làm xôn xao dư luận một thời. 

Phần cuối của bộ phim kể rằng: Trong giờ phút hấp hối, Giêsu bị ngất đi. Trong cơn hôn mê, chàng thấy mình xuống khỏi thập giá, tìm Mađalêna và cưới nàng làm vợ. Sau đó chàng còn tìm hai cô gái khác là Matta và Maria, và cũng cưới luôn hai người này. Chàng có rất nhiều con và sống hạnh phúc… Cuối cùng, Giêsu tỉnh dậy, lắc đầu xua đuổi cơn cám dỗ, hô to một tiếng: "Mọi sự đã hoàn tất", rồi tắt thở.

Đoạn phim này không có thật, chỉ là hư cấu của nhà văn. Chú tâm vào khía cạnh con người của Đức Giêsu, ông đã tưởng tượng những cơn cám dỗ và những cuộc chiến đấu vô cùng cam go mà con người Giêsu phải đương đầu. Mục đích là để thấy rõ hơn nơi Đức Giêsu chính là mẫu mực cho con người. Tác giả thổ lộ: "Trong khi viết tôi đã cảm động đến phát khóc. Tôi chưa bao giờ cảm thấy máu của Chúa rơi từng giọt vào tim tôi với sự ngọt ngào như vậy, với nỗi đớn đau như vậy."

Nói về nhân tính của Đức Giê-su cũng là một cách đề cập đến những vấn đề của con người. Là Kito hữu, chúng ta được mời gọi sống đạo lý cao siêu trong thân phận phàm nhân yếu đuối, điều mà thánh Phaolo mô tả như là những đồ quý được chứa đựng trong các “bình sành dễ vỡ”. “Điều tôi muốn thì tôi không làm, điều tôi không muốn thì tôi lại làm” (Rm 7,15).

Là Kito hữu, chúng ta được mời gọi sống bác ái, vui tươi, bình an, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tín, hiền hòa, tiết độ, v,v; trong khí đó xác thịt yếu đuối lôi kéo chúng ta nghiêng chiều về những điều ngược lại: thù hận, bất hòa, ghen tuông, nóng giận, tranh chấp, chia rẽ, bè phái, dâm ô, phóng đãng … và những thứ giống như thế (x. Gl 5,21-22).

Ai trong chúng ta mà không phải thường xuyên đương đầu với những cám dỗ triền miên trong cuộc đời là Kito hữu? Những lúc như thế, hãy nhớ rằng Đức Giê-su đã từng chịu cám dỗ như chúng ta và Ngài đã chiến thắng. Hãy học cùng Ngài, hãy bám vào Ngài để có sức vượt qua cám dỗ.

Khi biết mình yếu đuối, chúng ta cần chạy trốn những dịp tội; tập nói không với cám dỗ ngay từ đầu. 

Trường hợp thánh Benedicto là một thí dụ điển hình về sự chống trả cám dỗ. 

Để sống cho một mình Thiên Chúa, Benedicto trốn lên miền núi, ẩn mình trong một cái hang, thinh lặng cầu nguyện và ăn chay hãm mình. Bộ áo dòng là một tấm da cừu, thực phẩm là rễ cây và ít mẩu bánh mì người ta gởi tới trong một cái thúng cột giây thả xuống.

Ma quỷ rất tức giận vì các nhân đức thánh nhân. Chúng dùng nhiều chước cám dỗ để lôi kéo Ngài bỏ sa mạc trở về thế gian. Ngài thường làm dấu thánh giá để xua đuổi các cơn cám dỗ. Một lần kia bị cám dỗ về tình dục, Ngài liền cởi áo và lăn mình vào bụi gai đến chảy máu ra. Từ đó tư tưởng xấu hoàn toàn bị chinh phục và không còn quấy rầy Ngài nữa.

Mặt khác, chúng ta cần biết biện phân nhằm nhận ra đâu là cạm bẫy của ma quỉ để tránh né. Dối trá, chia rẽ, lừa gạt, thù hận… đó là bản chất của ma quỉ hay những kẻ thuộc về nó.

Truyện kể rằng có một con bọ cạp và con ếch gặp nhau ở bờ suối. Bọ cạp nhờ ếch cõng trên lưng để băng qua suối. 

Ếch hỏi: ‘Làm sao bảo đảm rằng anh sẽ không chích tôi? 


Bọ cạp đáp: ‘Bởi vì nếu tao chích mày, tao cũng sẽ chết chìm’. 

Nghe xuôi tai, ếch cõng bọ cạp qua suối, nhưng đến giữa dòng thì bọ cạp chích ếch. Ếch bị tê liệt, không bơi được và cả hai bắt đầu chìm.


Biết cả hai sắp chết chìm, nhưng chỉ còn chút thời gian, ếch hỏi: ‘Tại sao ông chích tôi’?

Bọ cạp đáp: ‘đó là bản chất của tao’.

Con ếch bị chết vì nghe lời bọ cạp, mặc dầu nó biết trước bọ cạp là độc. 

Vậy ai là kẻ khôn ngoan thì đừng chết vì những lời đường mật của thế gian.

ĐC Hoàng Đức Oanh nói về nhà đất Giáo hội bị nhà cầm quyền chiếm dụng

Thứ Hai, 20 tháng 2, 2012

Đức giám mục Kontum đề xuất hướng giải quyết tài sản nhà đất của Giáo Hội
GM Hoàng Đức Oanh: "Ban Tài Sản cùng với các Giáo phận và Dòng tu trao đổi và thoả thuận đi tới một danh sách phân thành 3 loại. Loại 1: Gồm các chủng viện, tu viện, nhà thờ… Chiếm đoạt các cơ sở loại này cũng có nghĩa là cấm đạo! Có khác chi một con người bị chặt hết chân tay không còn hoạt động được! Loại này dứt khoát đòi lại, không có chuyện khoan nhượng!

                                            TOÀ GIÁM MỤC KONTUM
                                            Office of the Bishop - Diocese of Kontum
                                            146 Trần Hưng Đạo - Kontum - Việt Nam
                                            Số 17/VT/’12/tgmkt

                                            Kontum ngày 15.02.2012


Kính gửi: Đức Cha Tôma Nguyễn văn Tân
                 Giám Mục Giáo Phận Vĩnh Long.
                 103 Đường 3/2. Tp Vĩnh Long.
                  Email: tgmvinhlong@gmail.com;
                     tomatan@gmail.com

Trọng kính Đức Cha,
Sống trên mảnh đất Tây Nguyên nhiều đặc thù, Giáo phận Kontum chúng con đã phải trải qua những năm tháng chiến tranh khốc liệt kéo theo bao hậu quả đau đớn. Đặc biệt từ 1972, hầu như các cơ sở của Giáo Hội phía bắc tỉnh Kontum đã bị chiến tranh tàn phá bình địa. Còn sau 1975, các cơ sở tôn giáo hầu như nằm trong tay quản lý của chính quyền. Có nơi thì mượn mà tới nay không trả như Trung tâm tình thương; có chỗ thì tịch thu như Trường đào tạo Yao phu Cuenot ở Kontum hay Nhà thờ Hiếu Đạo ở Pleiku. Chúng con đã hơn một lần đòi lại nhưng tới nay vẫn chưa có kết quả. Hình như chẳng ai có quyền hay dám giải quyết. Hình như “không ai bảo được ai”. Chẳng lẽ đấy là lề lối hành xử của chính quyền mới?Do đó, chúng con rất thông cảm với Đức Cha và Giáo phận Vĩnh Long khi hay biết chính quyền có chương trình biến chất Đại chủng viện Vĩnh Long mà không quan tâm tới nguyện vọng chính đáng của phía Giáo hội. Chắc hẳn dân rất bức xúc! Nỗi bức xúc đó ngày càng tăng, vì tài sản của Giáo hội hầu như dần dần bị biến dạng vô tội vạ!

Chuyện tài sản của người dân, cách riêng của các giáo hội, đã và đang làm khổ bao nhiêu người. Từ mọi phía. Nếu Giáo hội có lên tiếng đòi lại các cơ sở thuần túy tôn giáo và chính yếu, thì không chỉ “vì là tài sản vật chất”, mà còn vì cái “quyền tự do tôn giáo” cũng như vì quyền lợi của những người dân thấp cổ bé miệng bị oan ức khắp nơi đã bị tước đoạt từng tấc đất tấc ruộng do mồ hôi xương máu đổ ra từ bao đời. Cụ thể và rõ ràng như vụ cưỡng chế tài sản của gia đình Ông Đoàn Văn Vươn ngày 05.01.2012 vừa qua ở Tiên Lãng. Tạ ơn Chúa cám ơn gia đình Ông Đoàn Văn Vươn. Vụ việc này đã và còn đang thu hút sự quan ngại của thế giới cũng như của những người tha thiết đến quê hương đất nước này! Vụ việc này “mở mắt” được nhiều người!

Về chuyện đất đai tài sản của Giáo Hội, chúng con thiển nghĩ đã đến lúc giữa Giáo hội và Chính quyền cần ngồi lại giải quyết một lần sao cho nhẹ nhàng và tốt đẹp! Tội nghiệp cho nhiều người hôm nay phải gánh chịu những việc làm bất công của những người đi trước “đã nhẹ nhàng rũ tay và đáp bãi an toàn”. Nhiều tài sản đã bị “họ” “biến hóa”! Chúng ta có thể nghĩ tới mô hình Hiệp Ước Latran giữa Tòa Thánh và chính quyền Italia thời 1929 không? Giáo hội có thể đi bước trước? Có thể đưa ra một đề nghị gợi ý “một tiến trình ba bước” như sau được không?

* Bước 1 :

Có một Ban phụ trách tài sản của Giáo hội đi thu thập toàn bộ các cơ sở của Giáo hội hiện do Nhà Nước đang quản lý từ 1954.

Các Giáo phận, các Dòng tu lập danh sách này với đầy đủ chi tiết cần thiết như : cơ sở ban đầu là gì; ngày tiếp thu; sử dụng vào việc gì? Tiếp thu kiểu nào? Sau đó và nay đang sử dụng ra sao? Đề nghị cụ thể?

* Bước 2 :

Ban Tài Sản cùng với các Giáo phận và Dòng tu trao đổi và thoả thuận đi tới một danh sách phân thành 3 loại :

1) Loại 1: Gồm các chủng viện, tu viện, nhà thờ… Chiếm đoạt các cơ sở loại này cũng có nghĩa là cấm đạo! Có khác chi một con người bị chặt hết chân tay không còn hoạt động được! Loại này dứt khoát đòi lại, không có chuyện khoan nhượng!

2) Loại 2: Gồm các cơ sở giáo dục, từ thiện bác ái như trường học, bệnh viện, cô nhi viện… Loại này để chính quyền tiếp tục sử dụng theo đúng mục đích ban đầu. Nếu làm sai, tất cả các nơi đều lên tiếng phản ứng.

3) Loại 3: Là tất cả các tài sản khác như đất đai, ruộng vườn, … Giáo hội không đòi lại các cơ sở này và để phục vụ xã hội. Loại này có thể lên tới 60% tài sản của mỗi nơi.

* Bước 3 :

Ban Tài Sản sẽ trao cho chính quyền danh sách đã được thỏa thuận. Từ đó toàn thể Giáo hội Việt Nam sẽ có tiếng nói và phản ứng chung theo mục đích loại 1 và loại 2 trên đây. Không có phản ứng lẻ tẻ. Không còn phải nhìn ngó nhau. Như vậy Giáo hội đã mở lối thênh thang cho chính quyền bước tới. Như vậy sẽ tránh cho xã hội không còn phải bận tâm đối phó. Đó là một thể thức yêu Nước thiết thực và cụ thể.

Trọng kính Đức Cha,

Thay mặt toàn thể gia đình Giáo phận Kontum, chúng con hoàn toàn hiệp thông với Đức Cha và Quý Giáo phận trong việc đòi chính quyền Vĩnh Long giải quyết vụ việc có tình có lý theo đúng phép công bằng và đạo đức.

Hiệp thông trong niềm tin vào Thiên Chúa là Chủ lịch sử.

+ Micae Hoàng Đức Oanh
Giám mục Giáo phận Kontum.


Các giáo phụ nói về ngừa thai và phá thai

Chủ Nhật, 19 tháng 2, 2012

Mới đây, chính phủ Obama muốn ủy thác cho mọi người, kể cả các viện Công giáo, trả giá cho việc ngừa thai, các loại thuốc triệt sản và phá thai, đã nêu lên vấn đề giáo huấn Công giáo về các vấn đề này.


Didache.jpg



Một số nhà phê bình đã lầm lẫn cho rằng Công giáo cấm làm các việc này khi nói tới Tông thư Humanae Vitae (Sự sống Con người, 1968 – nói về điều chỉnh sinh sản) của ĐGH Phaolô VI năm 1968, hoặc hoặc Tông thư Casti Connubii (1930 – nói về tiết hạnh hôn nhân) của ĐGH Piô XI năm 1931.Tông thư của ĐGH Piô XI được viết để đáp lại sự thay đổi luân lý của Anh giáo, đã xói mòn nhiều thế kỷ do sự kết án của Tin Lành về việc ngừa thai bằng cách cho phép điều đó từ Hội nghị Lambeth ngày 15-8-1930.ĐGH Phaolô VI viết Tông thư Humanae Vitae để phản đối loại thuốc ngừa thai mới được phát minh, không chấp nhận đó là phương tiện tránh thai hợp pháp đối với người Công giáo. Tuy nhiên, các Tông thư này, cùng với gần 100 phán quyết của Tòa thánh trong thế kỷ XX kết án việc tránh thai nhân tạo, chỉ trình bày lại lịch sử của thần học luân lý về vấn đề này.Người Công giáo biết lịch sử này về giáo huấn luân lý về việc ngừa thai và phá thai để lấy lại vị thế của mình ngược với ủy quyền này, cũng như biết sống tốt đức tin Công giáo hơn. Vì thế, chúng ta sẽ đưa ra một số văn bản từ các nguồn của các Giáo phụ thời kỳ đầu của Kinh thánh để chứng minh Kinh thánh đã phản đối những việc này như thế nào, phổ biến trong xã hội Hy La.
The earliest reference to contraception and abortion is in the Didache (/
ˈdɪdəkiː/; Koine Greek: Διδαχή; Didachē nghĩa là Giáo huấn) hoặc Giáo huấn của 12 Tông đồ, tài liệu này từ nửa sau thế kỷ I hoặc đầu thế kỷ II. Didache viết: “Người ta không được hạn chế sinh sản, không được giết thai nhi bằng cách phá thai, hoặc giết cái gì do mình gây ra”.Nhiều bản dịch gọi là “thực hành ma thuật” (practice sorcery) vì từ ngữ Hy Lạp đôi khi có nghĩa đó (x. Kn 12:4; Gl 5:20; Kh 18:23). Tuy nhiên, nó cũng có nghĩa là thực hành y học hoặc dùng độc dược, và thuật ngữ này có thể ám chỉ các biện pháp tránh thai, đó là trường hợp trong các văn bản sau đây.Một văn bản thời kỳ đầu là Epistle of Barnabas (Thư của Thánh Barnaba): “Người ta không được giết một đứa trẻ bằng cách phá thai, cũng không được hủy hoại nó sau khi nó sinh ra”. Điều này cũng cho thấy rằng các Kitô hữu thời kỳ đầu cấm phá thai.Thế kỷ II, thánh Clêmentô thành Alexandria viết trong Paedagogus (Παιδαγωγός, tác phẩm thứ nhì trong ba tác phẩm nổi tiếng của ngài): “Các phụ nữ dùng loại thuốc phá thai nào đó thì không chỉ giết phôi thai mà còn giết cả nhân loại”. Câu này ủng hộ cách dịch của chúng ta đối với từ Didache bàng cách nói đến cách dùng thuốc phá thai.
Năm 177, Athenagoras thành Athens viết trong cuốn Supplication for the Christian (Thỉnh cầu người Kitô giáo): 
“Khi chúng tôi nói rằng các phụ nữ dùng thuốc phá thai là phạm tội giết người, và sẽ phải trả lẽ trước mặt Chúa về việc phá thai, chúng ta phá thai vì luật nào?”Đây là văn bản đầu tiên trong nhiều văn bản của các Giáo phụ xác định việc phá thai với tội sát nhân, cho thấy giá trị cao đối với tính người của thai nhi. Cuốn Lời xin lỗi của Tertullian năm 197, ông vẫn hiệp thông với Giáo hội, ghi: “Trong trường hợp của chúng ta, giết người một lần cũng bị cấm, chúng ta không thể hủy hoại ngay cả bào thai còn trong tử cung, vì thai nhi đã lấy máu từ các phần cơ thể để là chất bổ dưỡng. Cản trở sinh sản là cách giết người mau hơn; dù người ta giết một sinh vật đã ra đời hoặc hủy hoại một sinh vật sắp sinh ra”. Chính Tertullian là người đã kết hôn và hiểu phẩm giá của thai nhi trong tử cung.Thế kỷ III, Minucius Felix (năm 226) viết trong cuốn Octavius: “Bằng cách uống thuốc, có một số phụ nữ hủy hoại con người trong chính cung lòng mình, vậy là họ phạm tội giết người”.Khoảng năm 228, thánh Hippôlytô viết về các phụ nữ không lập gia đình, kể cả một số người là Kitô hữu, có thai “bất hợp pháp”. Trong cuốn Refutation of All Heresies (Bác bẻ các Tà thuyết), thánh Hippôlytô viết: “Phụ nữ là tín hữu mà lại dùng thuốc ngừa thai và bó buộc mình, để họ loại bỏ cái mình thụ thai vì không muốn có con hoặc vì nô lệ hoặc vì bạn tình, vì mục đích gia đình và vật chất. Đó là trái đạo lý vì vừa phạm tội dâm dục vừa phạm tội sát nhân! Vả lại, sau những hành động trơ tráo như vậy, họ không còn biết xấu hổ khi nhận mình là Công giáo”.Thánh nhân cân nhắc động thái của họ là chối bỏ tình trạng Kitô hữu. Tài liệu Constitutions of the Holy Apostles (Hiến pháp của các Tông đồ) viết: “Người ta không được giết con mình bằng cách phá thai, hoặc giết cái gì được tạo ra, vì mọi thứ được hình thành và tiếp nhận linh hồn từ Thiên Chúa, nếu nó bị giết thì sẽ bị trả báo, vì đã hủy hoại bất chính”.Câu này chứng tỏ rằng bào thai có linh hồn và sự sống của nó phải được bảo vệ ngay từ khi thụ thai.Thế kỷ IV, các tác giả Hy Lạp và Latin đã nói về các vấn đề này. Thánh Augustinô (*) viết trong cuốn On Marriage and Concupiscence (Hôn nhân và nhục dục, năm 419): “Tôi giả sử, dù người ta không ăn nằm với vợ để sinh con đẻ cái, không để dâm dục làm bế tắc việc sinh con vì ý xấu. Những người làm vậy, dù họ là vợ chồng, thì không còn là vợ chồng; hoặc họ ngăn cản thực tế hôn nhân, nhưng với một người đứng đắn đã che giấu điều ô nhục”.Thánh Basiliô Cả viết trong First Canonical Letter (Thư Giáo luật thứ nhất, năm 374): “Phụ nữ cố ý hủy hoại đứa con chưa sinh của mình là phạm tội giết người. Với chúng ta, không có hướng dẫn để được hoặc không hình thành. Trong trường hợp này, đó không chỉ về việc sinh ra người được xác nhận, mà phụ nữ đó còn tự tấn công mình, vì trong đa số trường hợp, các phụ nữ đều muốn chết. Hủy hoại thai nhi là thêm trọng tội khác, tội giết người lần thứ nhì, với mọi sự kiện, nếu chúng ta coi điều đó là cố ý làm”.Lý do ngài nói đến “việc điều tra có được định hình hay không” mà một số thần học gia nghĩ rằng một linh hồn không phát triển trong bào thai cho tới táng thứ ba hoặc muộn hơn. Thánh Basiliô cho biết rằng điều này không là vấn đề vì ở bất cứ giai đoạn nào thì việc hủy hoại bào thai đều là “tội trọng” và là “giết người”. Pace Nancy Pelosi nói rằng vì thánh Augustinô nghĩ rằng linh hồn bắt đầu có trễ trong thai kỳ, do đó việc phá thai có thể chấp nhận trong thời gian đầu. Thánh Basiliô cho rằng lý luận sai lầm như vậy là vô căn cứ (unfounded).Thánh Giêrônimô viết trong Lá thư 22 gởi Eustochium (năm 396): “Một số người, khi thấy mình có con ngoài ý muốn, họ dùng thuốc để phá thai, và khi họ chết với đứa con (thường xảy ra), họ vào “thế giới thấp” mang theo tội không chỉ là tội ngoại tình chống lại Thiên Chúa, mà còn phạm tội tự tử và giết con mình. Những người này nói: “Tới mức tinh khiết thì mọi thứ đều tinh khiết. Lương tâm tôi đủ hướng dẫn cho tôi. Trái tim thuần khiết là cái Thiên Chúa kiếm tìm”.Ở đây, thánh Giêrônimô từ chối lương tâm của sự phá thai là sự hướng dẫn đầy đủ. Những điều này được làm rõ trong các thế kỷ sau, lương tâm phải được định hình đúng để Thiên Chúa có thể thực sự tìm được tâm hồn thuần khiết trong mỗi con người.Không chỉ các thần học gia nổi tiếng nói về việc phá thai và tránh thai, một số Công đồng cũng đề cập. Công đồng Elvira ở Tây Ban Nha (năm 305) tuyên bố 2 điều cấm cử hành các bí tích cho các phụ nữ phá thai: “Nếu một phụ nữ có thai vì tội ngoại tình, khi chồng vắng nhà, và sau đó phụ nữ này hủy bỏ đứa con, phụ nữ này không được rước lễ cho tới lúc chết, vì phụ nữ này phạm 2 trọng tội”. Giáo luật 68 viết: “Nếu một tân tòng mang thai vì gian dâm và giết hại đứa con, phụ nữ này chỉ có thể được rửa tội lúc cuối đời”.Quyết định tương tự cũng đạt được tại Công đồng Ancyra (năm 314): “Liên quan các phụ nữ phạm tội gian dâm và phá thai, hoặc những người được thuê làm thuốc phá thai, họ không được rước lễ cho tới lúc chết”.Không Giáo phụ nào hoặc Công đồng nào đưa ra ý kiến ngược lại về vấn đề tránh thai và phá thai. ĐGH Piô XI, Chân phước Phaolô VI và Chân phước Gioan Phaolô II cũng đưa ra giáo huấn về vấn đề tương tự bắt đầu từ các thế hệ đầu tiên, tiếp tục qua thời Trung cổ, và được các nhà cải cách Tin Lành dạy. Chính Martin Luther gọi những người dùng biện pháp tránh thai là “ngu xuẩn”, “thú vật” và “con heo”. Còn John Calvin nói rằng việc tránh thai “bị kết án” và “hết sức ghê tởm” trong khi phá thai là “trọng tội không thể chuộc tội”.
Các ĐGH đã kêu gọi Giáo hội áp dụng phương pháp luân lý và thánh thiện đối với hôn nhân và sinh sản con cái. Chúng ta định hình lương tâm theo ánh sáng của truyền thống kiên định này, đồng thời chúng ta dạy và sống như vậy nhờ hồng ân Thiên Chúa ban cho chúng ta.



TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ NCRegister.com)



(*) Khi viết điều này, ngài đã làm giám mục GP Hippo, ngài cũng đã “có tiếng” là sống với vợ lẽ 14 năm và có 1 con trai với bà này. Do đó, ngài có kinh nghiệm sống gia đình và rút kinh nghiệm từ những sai lầm của mình.


Tôn giáo và hạnh phúc


Tôn giáo và Hạnh phúc
VRNs (20.02.2012) – European Social Survey – Cuối năm 2011, để phân tích kinh nghiệm về nỗ lực của tôn giáo đối với hạnh phúc, người ta đã sử dụng các dữ liệu từ 3 đợt (2002/2003, 2004 và 2006) của tổ chức Nghiên cứu Xã hội Âu châu (ESS – European Social Survey) đối với 114.019 cá nhân ở 24 quốc gia.
Các dữ liệu này cung cấp thông tin về đặc tính cá nhân như giới tính, tuổi tác, thu nhập, sức khỏe tổng quát theo quan điểm cá nhân, tình trạng hôn nhân, hoạt động chính, số con và trình độ học vấn, và những phương diện khác,…
Khi làm trắc nghiệm thống kê tìm các mối tương quan các biến số giữa hạnh phúc và tôn giáo, người ta có kết quả chủ yếu là:
1. Có hệ quả quan trọng thuộc về tôn giáo đối với hạnh phúc. Những người theo một tôn giáo nào đó sẽ sống hạnh phúc hơn những người không có tôn giáo.
2. Tôn giáo hoặc giáo phái có hệ quả quan trọng đối với hạnh phúc. Người Tin Lành, các tín đồ Kitô giáo khác và người Công giáo cho biết họ hạnh phúc hơn người theo Chính thống giáo và các Giáo hội Đông phương.
3. Dường như có mối quan hệ tích cực giữa mức độ tôn giáo ở một người đối với hạnh phúc: Càng sùng đạo càng hạnh phúc. Tuy nhiên, những người tự coi mình là “không có tôn giáo” (0) có mức hạnh phúc tương đối so với những người có mức 5 về tỷ lệ sùng đạo.
4. Thường xuyên tham dự các nghi lễ tôn giáo cũng tương quan với hạnh phúc: những người hàng ngày tham dự các nghi lễ tôn giáo thì hạnh phúc hơn những người không tham dự.
Trầm Thiên Thu

Đời người tu hành

Thứ Năm, 16 tháng 2, 2012



Linh mục FX Lê Viết Hùng
Sinh năm 1941, tại giáo xứ Đức Lân, Nghệ An,
Đi tu lúc 16 tuổi;
hơn 10 năm tu luyện tại trường Tiểu và Đại Chủng viện;
13 năm tù đày;
11 năm bị quản chế;
chịu chức linh mục lúc 58 tuổi;
13 năm thi hành chức linh mục;
qua đời ở tuổi 71.





TIỂU SỬ CHI TIẾT


Linh mục Phanxicô Xaviê Lê Viết Hùng sinh ngày 29/10/1941 tại giáo họ Diệu Ốc, giáo xứ Đức Lân, hạt Đông Tháp (thuộc xã Phúc Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An).
+ Năm 1957-1959: Học ở chủng viện dự bị Xuân Phong

+ Năm 1959-1965: Học ở Tiểu chủng viện Xã Đoài

+ Năm 1968: Chính quyền cộng sản bắt đi cải tạo hơn 10 năm tại trại giam Cổng Trời và sau khi được trả tự do còn bị quản chế đến năm 1998

+ Vào Đại Chủng viện Vinh Thanh: 12-08-1998

+ Thụ phong Linh mục: 26-1-1999

+ Từ tháng 1999 - 2008: Đặc trách đào tạo tiền chủng sinh tại Tòa Giám mục Xã Đoài.

+ Năm 2004: kiêm phụ trách giáo xứ Bùi Ngọa

+ Từ ngày 19-8-2008 đến nay: Quản xứ Trung Song.

+ Vì tai nạn giao thông trên đường đi dâng lễ, ngài đã từ trần hồi 2h20’ ngày 14/2/2012.

Hưởng thọ 71 tuổi, 13 năm linh mục.


-----------------------------------

Lễ an táng Lm FX Lê Viết Hùng

“Nỗi niềm thương tiếc Cha vô hạn, chúng con đau, cả giáo xứ đau khi nghe tin Cha đã lìa xa chúng con. Ngôi thánh đường Cha xây, những dự định của Cha trong năm mới này lẽ nào vắng bóng Cha, chúng con không tin nổi điều này, lần này chúng con biết Cha đã ra đi, đi mãi…”
Lời tiễn biệt của vị chủ tịch Hội đồng mục vụ giáo xứ, cũng là tiếng khóc xé lòng của toàn thể anh chị em linh tông, huyết tộc, thân bằng quyến thuộc cùng gần 3.000 con tim của giáo xứ Trung Song trong ngày tiễn Cha Phanxicô Xaviê Lê Viết Hùng về với lòng đất mẹ.
Không một lời giã biệt, không một dấu hiệu báo trước về sự ra đi. Trong giờ cơm tối, để chuẩn bị đi dâng Thánh lễ tại một họ lẻ trong giáo xứ, cha con còn bàn với nhau về một chuyến đi mục vụ sẽ thực hiện trong ngày mai. Sau khi ra khỏi nhà không xa, một tai nạn giao thông đã lấy đi mạng sống của ngài. Từ Trung Song, tin Cha xứ qua đời đến quá bất ngờ, người người sửng sốt và đau đớn.
Con người mảnh khảnh nhưng đầy cương nghị ấy sinh ra và lớn lên tại giáo họ Diệu Ốc, xứ Đức Lân. Năm 13 tuổi, cái tuổi mà bao bạn bè đồng lứa đang mải mê thả diều, đuổi chuồn bắt bướm, thì chú Hùng đã khăn gói quả mướp rời xa gia đình khởi đầu  đời tu nơi Trường tập Xuân Phong. 16 tuổi, thầy Hùng được gọi vào Trường Latinh (Tiểu chủng viện). Thời gian 6 năm trôi nhanh với những dự phóng ấp ủ cho hành trình linh mục. Mãn Tiểu chủng viện rồi kẻ giảng (giúp xứ) 3 năm… Tưởng chừng mọi sự đã hanh thông với ngày về Trường Lý đoán (Đại Chủng viện). Nhưng (một chữ nhưng mặn chát, uất nghẹn), thầy Hùng bị chính quyền cộng sản bắt giam chỉ vì là “cán bộ” của Chúa, của Giáo Hội, với cái án không bao giờ được xử, không hẹn ngày về… khởi đầu cho những năm dài thương khó. 13 năm đằng đẵng qua hết “trại” này đến “trại khác, và cuối cùng là Trại giam Cổng Trời (Hà Giang) – nơi lưu dấu những chứng nhân tử đạo và bao phận tù nhân oan ức phải vùi xác rừng xanh…
Năm 1981, thầy Hùng được trả tự do, nhưng là thứ tự do trong vòng quản chế. Dù sao đi nữa, ngọn lửa tông đồ vẫn âm ỉ cháy trong con tim và đôi mắt của con người không bị khuất phục bởi cường quyền. Năm 1992, thầy được gọi vào giúp Tòa Giám mục và học hàm thụ tại Đại chủng viện Vinh Thanh, và rồi dù muộn mằn, xây xước, năm 1999, thầy đã được thụ phong Linh mục. Kể từ đó, với tư cách là mục tử, cha Phanxicô Xaviê đã miệt mài dấn thân trong những trách vụ mà bề trên giao phó, từ đặc trách lớp Tiền chủng viện Xã Đoài, quản xứ Bùi Ngọa, linh hướng, cha giải tội cho dòng Mến Thánh Giá Xã Đoài, và sau cùng là quản xứ Trung Song…
Từ 3 ngày nay, Trung Song trắng một màu tang tóc, u buồn. Buổi sáng ngày 16/02, trời mưa tầm tã, ngày tiễn cha đi…
Thánh lễ an táng và nghi thức tiễn biệt cố linh mục Phanxicô Xaviê Lê Viết Hùng diễn ra lúc 9 giờ. Đức Cha già Phaolô Maria Cao Đình Thuyên chủ tế Thánh lễ trước sự hiện hiện của gần 100 linh mục trong và ngoài giáo phận, quý chủng sinh, nam nữ tu sĩ và đông đảo bà con xa gần.
Giảng trong Thánh lễ, Đức Cha Phaolô Maria nói về sự chết như là cánh cửa mở ra cho đời sống miên viễn. Nhờ cái chết của mình, Chúa Giêsu đã hủy diệt cái chết của chúng ta, nhờ sự sống lại của Ngài, Ngài đã phục hồi sự sống cho chúng ta (x. Lời tiền tụng trong Kinh nguyện Thánh Thể Mùa Phục Sinh). Qua cái chết của Chúa, người Kitô hữu có khả năng đi vào sự sống đời đời, tiến tới mối hiệp thông với Thiên Chúa, Đấng đã đến với nhân loại qua Chúa Phục Sinh. Như thế, cái chết của cha Phanxicô Xaviê mở ra chân trời mới, là cửa ngõ đưa ngài vào Nước Trời. Do đó, cái chết của ngài không phải là ngõ cụt, một sự thất bại, nhưng đem lại cho ngài sự sống đời đời.
Đức Cha cũng nhấn mạnh đến thứ hoa trái thiêng thánh mà người linh mục đã miệt mài gieo vãi suốt những năm tháng sống trên trần gian. Hoa trái đó không chỉ được định hình ở những công trình xây dựng, ở một số quan điểm, việc làm đạo đức mà quan trọng hơn, nó còn được biểu hiện suốt hành trình kiếm tìm, lựa chọn và cống hiến trọn vẹn cho lẽ sống cuộc đời.
Sau nghi thức phó dâng và tiễn biệt là lễ di quan ra khu vực huyệt mộ. Bà con giáo dân đứng kín dọc các lối đi khi di ảnh và linh cữu rước qua, lưu luyến tiễn biệt người mục tử đáng kính về nơi an nghỉ cuối cùng.
Khép lại chặng hành trình 71 năm cuộc đời trần thế, 13 năm linh mục, cha Phanxicô Xaviê Lê Viết Hùng đã đột ngột vĩnh viễn nằm xuống giữa nỗi đau, sự trống vắng của người ở lại. Lời ai điếu trong nước mắt nhưng với niềm tín thác mạnh mẽ vào Chúa Phục sinh, chúng ta chắc rằng, linh hồn cố linh mục Phanxicô Xaviê sẽ được thưởng công xứng đáng với những hy sinh của một đời mục tử mà ngài đã dấn thân không mỏi.
Jos. Văn Huệ