Giáo xứ Mỹ Dụ cầu nguyện cho Tam Tòa

Thứ Năm, 19 tháng 5, 2011

Vinh, Việt Nam (2/08/2009) - Tối thứ Bảy ngày 1/08/2009, giáo xứ Mỹ Dụ tổ chức thánh lễ cầu nguyện cho hai linh mục và các giáo dân bị đánh đập dã man tại Tam Tòa. Mở đầu thánh lễ, cha Phạm Quang Long, chánh xứ Mỹ Dụ, nói: "Anh chị em rất thân mến, đây là một buổi tối rất đặc biệt khi chúng ta cùng với 178 giáo xứ, dưới sự hướng dẫn của hơn 170 linh mục trong giáo phận, đồng loạt dâng thánh lễ cầu nguyện cho hai linh mục và các giáo dân bị đánh đập dã man tại Ðồng Hới, Quảng Bình. Trong bài Tin mừng, Chúa Giêsu khẳng định "Ai đến với Tôi không hề phải đói; ai tin vào Tôi chẳng khát bao giờ!". Là Kitô hữu, chúng ta khao khát Thiên Chúa; là con người, chúng ta khao khát công lý, khao khát sự thật. Nguyện xin Thiên Chúa đáp ứng các khát vọng của chúng ta".

Trước thánh lễ, cộng đoàn nghe Thông Cáo số 4 của Tòa Giám Mục Xã Ðoài, xem lại đoạn băng video về cảnh giáo dân Tam Tòa bị đàn áp, hình ảnh đầy thương tích của cha Ngô Thế Bính và các nạn nhân, nghe phỏng vấn các nhân chứng biến cố Tam Tòa, và nghe đài RFA phỏng vấn cha Phạm Ðình Phùng, chánh văn phòng Tòa Giám Mục. Cộng đoàn còn nghe ông Nguyễn Ðức Thắng, chủ tịch Hội đồng Giáo xứ, tường trình về buổi làm việc với Ủy Ban Nhân Dân xã Hưng Châu chiều thứ Bảy 1/08/2009.

Không khí trong giáo xứ bắt đầu nóng lên, khi vào đầu giờ chiều thứ Bảy 1/08/2009, Ủy Ban Nhân Dân xã mời ông Nguyễn Ðức Thắng đến "bàn một số nội dung cần thiết". Ông Thắng cho biết:

"Khi tôi đến thì đã có 13 người chờ sẵn để "làm việc" với tôi. Trong đó 10 người thuộc xã Hưng Châu: gồm chủ tịch và phó chủ tịch xã, bí thư và phó bí thư, chủ tịch và phó chủ tịch mặt trận, cùng một số ban ngành khác. Ngoài ra còn có 3 người ở huyện Hưng Nguyên là các ông chủ tịch mặt trận, trưởng bộ phận tôn giáo và công an tôn giáo huyện.

"Họ cáo buộc giáo xứ phạm pháp khi treo hai tấm băng rôn "Cầu Nguyện Cho Giáo Dân Tam Tòa Bị Công An Quảng Bình Ðánh Ðập Và Bắt Giữ". Họ cũng đề cập đến việc giáo xứ xây dựng cơ sở vật chất mà không xin phép và việc phát thanh các bản tin về sự kiện Tam Tòa bằng loa công suất lớn.

"Lập luận của họ là: theo báo chí và truyền hình, Ðức Cha đã ký kết với chính quyền tỉnh Quảng Bình (có dấu của Tòa Giám Mục chiếu trên TV), việc làm của giáo dân là vi phạm pháp luật, và công an không đánh đập giáo dân... Khi treo biểu ngữ nói "công an Quảng Bình đánh đập giáo dân" thì có nghĩa là lên án nhà nước và chính phủ sai trái, bởi vì công an được nhà nước chỉ đạo. Và họ yêu cầu giáo xứ phải tháo băng rôn xuống. Có ý kiến khác cho rằng sự việc xảy ra ở Quảng Bình, không liên quan gì đến chúng ta ở đây, địa phương ở đây rất tốt với tôn giáo, vậy giáo xứ không được làm như thế mà gây mất đoàn kết lương giáo".

Tôi rrả lời họ rằng: "Chúng tôi chỉ thấy dấu và chữ ký của Ðức Cha, chứ nội dung thì không thấy chiếu lên TV. Hơn nữa, năm 2005 thì giáo phận Vinh mới tiếp nhận giáo xứ Tam Tòa, trong khi đó năm 1997 chính quyền đã quyết định lấy nhà thờ Tam Tòa làm di tích chiến tranh mà không thông qua Tòa Giám Mục Huế, là chủ sở hữu.

"Chúng tôi chỉ nói "công an Quảng Bình đánh đập giáo dân" chứ không nói nhà nước, còn các ông hiểu thế nào là tùy các ông. Các giáo xứ khác còn treo những băng rôn với lời mạnh hơn nữa! Ðạo chúng tôi là đạo hiệp thông và hiệp nhất, cho nên việc đánh đập giáo dân là xúc phạm đến chúng tôi, chúng tôi rất muốn tập trung người đi vô Tam Tòa.

"Việc tháo băng rôn xuống thì không thể được, vì theo như cha quản xứ chúng tôi nói là sẽ treo cho đến khi vụ việc trong Tam Tòa giải quyết ổn thỏa. Nói rằng địa phương ở đây rất tốt với tôn giáo, thì tại sao các ông lại mời tôi lên đây làm gì? Ngày Chúa Nhật vừa rồi (26/07/2009) chúng tôi đi dự lễ ở nhà thờ Cầu Rầm, có tất cả 5 giáo xứ trong 3 huyện. Sau thánh lễ, chúng tôi tuần hành qua quảng trường HCM, qua tỉnh ủy, công an tỉnh, rồi đi về cầu nguyện ở giáo xứ Yên Ðại, mà không thấy chính quyền phản đối gì cả. Về việc xây dựng cơ sở vật chất: chúng tôi chuyển nhà trường cũ về phía sau nhà thờ, làm các công trình phụ như nhà vệ sinh, phòng để đồ, để xe. Chả lẽ làm nhà vệ sinh mà phải xin phép sao?"

Giảng trong thánh lễ, cha Phạm Quang Long đề cập đến những đói khát của con người. Người ta phải đương đầu với nhiều cơn khát: khát được tôn trọng, khát lời động viên, khát hy vọng, khát niềm tin, đói công lý, đói sự thật, và sau cùng là đói khát Thiên Chúa.

Nói về khát vọng công lý và sự thật, cha Long nhấn mạnh: "Chúng ta sống trong một điều kiện thông tin bị bưng bít thế nào đó, mà chúng ta không thể tiếp cận với thực tại khách quan. Cả nước có khoảng 700 tờ báo thì chỉ có một tổng biên tập. Nếu anh chị em đọc 10 tờ báo thì cũng thấy viết hoàn toàn như nhau, chỉ khác tác giả mà thôi.

"Thông tin ở trên các phương tiện truyền thông đã được chỉ đạo và đổi trắng thay đen. Ðiển hình là vụ Thái Hà và Tam Tòa, đến nỗi Tòa Giám Mục phải ra thông báo rằng "Thông tin về Tam Tòa trên báo đài nhà nước và của Quảng Bình là không đúng sự thật". Giáo dân ở Thái Hà, ở An Bằng, ở Sơn La và nhất là ở Tam Tòa bị đối xử bất công và bị đàn áp. Tại sao nhà thờ của mình, đất của mình mà mình đến đó thì bị kết án là vi phạm pháp luật?"

Và kết thúc bài giảng bằng lời kinh của mẹ Teresa Calcutta:

"Lạy Chúa Giêsu,
Xin hãy giải thoát con,
Khỏi ham muốn được yêu,
Khỏi ham muốn được ca tụng,
Khỏi ham muốn được vinh danh,
Khỏi ham muốn được ca ngợi,
Khỏi ham muốn được yêu thích hơn,
Khỏi ham muốn được bàn hỏi,
Khỏi ham muốn được chấp thuận,
Khỏi ham muốn được nhiều người biết tới,
Khỏi lo sợ bị hạ nhục,
Khỏi lo sợ bị khinh khi,
Khỏi lo sợ bị khiển trách,
Khỏi lo sợ bị vu khống,
Khỏi lo sợ bị quên lãng,
Khỏi lo sợ bị đối xử bất công,
Khỏi lo sợ bị diễu cợt,
Khỏi lo sợ bị nghi ngờ."


Sau thánh lễ là đến mục thắp nến cầu nguyện. Có 4 lời nguyện do cha chủ sự xướng lên:

- Cầu cho các linh mục và giáo dân Tam Tòa bị bách hại, xin Chúa nâng đỡ và đỗ tràn Thần Khí giúp họ sống kiên nhẫn và yêu thương và luôn luôn xử sự như những chứng nhân đích thực của Tin Mừng.

- Cầu cho Ðức Giám Mục Phaolô, các linh mục và toàn thể giáo dân trong giáo phận hiệp nhất với nhau, đặc biệt là trong giai đoạn khó khăn này.

- Cầu cho các nhà lãnh đạo quốc gia và nhà cầm quyền Quảng Bình biết nhận ra sự thật, biết xây dựng hòa bình và tôn trọng tự do tôn giáo.

- Cầu cho hòa bình và công lý được hiển hiện trên quê hương đất nước Việt Nam, để mọi người được hưởng một nền hòa bình đích thực.

Giữa các lời nguyện, cộng đoàn lặp lại điệp khúc "Mẹ ơi đoái thương xem nước Việt Nam, trời u ám chiến tranh điêu tàn. Mẹ hãy giơ tay ban phúc bình an, cho Việt Nam qua phút nguy nan". Bài hát này được cha xứ Mỹ Dụ giải thích rằng: cho dù ngày nay chúng ta không có chiến tranh, nhưng máu của các linh mục và giáo dân đã đổ ra tại Tam Tòa, và vẫn còn có đấu tranh tâm lý, đấu tranh trên mặt trận văn hóa tư tưởng.

Ánh nến lung linh cùng với lời kinh tha thiết làm xúc động lòng người.

Tuyên Nguyễn

ĐGH: Chúa Kitô, người mục tử nhân lành

Thứ Tư, 18 tháng 5, 2011


VRNs (16.05.2011) – Vatican – Quý vị thính giả thân mến,
Ơn gọi theo Chúa được hình thành khi chúng ta ra khỏi ý định riêng tư, ra khỏi sự tự mãn của bản thân để đặt mình trong bàn tay và ý định nhiệm mầu của Chúa. Trên đây là những lời chia sẻ trong thông điệp Ngày thế giới cầu nguyện cho ơn thiên triệu được Đức Thánh Cha Biển Đức XVI ngỏ lời với khách hành hương quy tụ về quảng trường thánh Phê-rô trong Chúa nhật hôm qua 15 tháng Năm.
Anh chị em thân mến,
Phụng vụ Chúa nhật thứ Tư mùa Phục sinh giới thiệu cho chúng ta một trong những hình ảnh đẹp nhất đã được phác hoạ trong Giáo hội từ những thế kỷ đầu tiên, đó là hình ảnh người Mục tử nhân lành. Tin mừng thánh Gio-an chương thứ mười mô tả những đường nét đặc biệt về tương quan giữa Chúa Ki-tô Mục tử với đàn chiên của Người; một mối tương quan chặt chẽ đến nỗi chẳng có ai có thể cướp mất đàn chiên từ tay Người. Quả thế, đàn chiên gắn kết với Người bằng mối dây tình yêu và hiểu biết lẫn nhau, mối dây bảo đảm cho họ quà tặng không gì sánh được là cuộc sống vĩnh cửu. Thái độ của đàn chiên đối với vị Mục tử nhân lành được tác giả tin mừng mô tả ngang qua hai động từ đặc thù: lắng nghe và bước theo. Những từ này nói lên những đặc tính căn bản của những ai theo Chúa. Trước tiên là lắng nghe Lời của Người, nơi đó đức tin được sinh ra và lớn lên. Chỉ những ai để tâm đến tiếng Chúa mới có thể nhận định và đưa ra những lựa chọn đúng đắn hầu hành xử theo ý Chúa. Từ việc lắng nghe sẽ dẫn đến bước theo Chúa Giê-su: các môn đệ sau khi đã lắng nghe tiếng Chúa, đã lắng nghe các lời dạy của Thầy cách thâm sâu hầu để sống trong đời sống thường ngày.
Nhìn ngắm chân dung vị Mục tử nhân lành nhắc nhớ chúng ta về những Vị mục tử trong Giáo hội và những ai đang trong thời gian huấn luyện để trở thành Mục tử. Vì thế tôi mời gọi anh chị em cầu nguyện cách đặc biệt cho các Giám mục, kể cả Giám mục Rô-ma nữa! – cho các Cha xứ, cho tất cả những ai có trách nhiệm dẫn dắt đoàn chiên Chúa để họ trung thành và sáng suốt chu toàn bổn phận của mình. Cách đặc biệt, chúng ta cầu nguyện cho ơn gọi linh mục trong Ngày thế giới cầu nguyện cho ơn thiên triệu này để không bao giờ thiếu những người cử hành thánh lễ của Chúa. Đã 70 năm kể từ ngày Đức Pio XII thành lập Tổ chức Giáo hoàng về cổ võ ơn gọi linh mục. Trực giác của vị tiền nhiệm đáng kính của tôi đã dựa trên mong ước rằng ơn gọi lớn lên và trưởng trành trong Giáo hội và đặc biệt từ bối cảnh gia đình tốt lành và được củng cố trong đức tin, bác ái và nhân ái. Trong thông điệp của Ngày thế giới cầu nguyện cho ơn thiên triệu, tôi đã nhấn mạnh rằng một ơn gọi được hình thành khi một người ra khỏi “ý hướng khép kín và tự tôn của mình để đặt mình trong một ý định khác, ý định của Thiên Chúa và để Ngài dẫn dắt mình”. Trong thời đại hôm nay, nơi mà tiếng Chúa có nguy cơ bị lấn át bởi nhiều tiếng khác, mỗi công đoàn giáo hội được mời gọi để cổ võ và chăm lo ơn gọi lịnh mục và đời sống thánh hiến. Con người thực sự luôn cần đến Thiên Chúa, ngay cả trong thế giới kỹ thuật, và sẽ luôn cần đến Người mục tử để công bố Lời Chúa và giúp chúng ta gặp gỡ Thiên Chúa ngang qua các Bí tích.
Anh chị em thân mến, được tăng sức nhờ vào niềm vui phục sinh và tin tưởng vào Đấng Phục sinh, chúng ta phó thác tất cả những dự định và lo toan cho Mẹ Maria Vô Nhiễm, mẹ của từng ơn gọi để nhờ lời chuyển cầu của Người, ngày càng có thêm nhiều ơn gọi thánh thiện phục vụ Giáo hội và thế giới.
Trước những gì đang xảy ra ở Libia, Đức Thánh Cha một lần nữa bày tỏ quan ngại về tình hình chiến sự vẫn tiếp diễn:
Tôi tiếp tục theo dõi với nhiều lo lắng cho những xung đột chiến sự căng thẳng tại Libia và hiện số người thương vong không ngừng gia tăng, nhất là thường dân. Tôi muốn lặp lại lời kêu gọi cấp bách bởi con đường đối thoại và thoả hiệp vượt lên trên những xung đột bạo lực, với sự giúp đỡ của những tổ chức quốc tế đang nỗ lực tìm ra lời giải đáp. Qua lời cầu nguyện, tôi hiệp thông với giáo hội địa phương trong việc trợ giúp dân chúng, đặc biệt những ai đang làm việc trong các bệnh viện.
Tôi cũng nghĩ đến Siria, nơi đang cần xây dựng đời sống chung dựa trên hoà thuận và hiệp nhất. Xin Thiên Chúa đừng để xảy ra thêm những cuộc đổ máu trên quê hương của những tôn giáo và nền văn minh vĩ đại. Tôi mời gọi toàn giới lãnh đạo và công dân Siria không ngừng nỗ lực tìm kiếm lợi ích chung và đón nhận những nguyện vọng chính đáng cho một tương lai hoà bình và bền vững.
Sau đó, Đức Thánh Cha cũng nhắc đến hai lễ phong chân phước khác như một âm vang của lễ phong chân phước cho Đức cố Giáo Hoang Gioan Phaolo II: chân phước Georg Hafner ở Wurzburg, Đức quốc; ngài là linh mục triều, chết tử đạo trong trại tập trung ở Dachau. Chân phước Giustino Maria Russolillo ở Pozzuoli; ngài là người sáng lập hội Ơn gọi thánh hiến.
Ngỏ lời với du khách hành hương nói tiếng Pháp, Đức Thánh Cha nói: “Trong tháng Năm, tháng kính Đức Nữ Đồng Trinh Maria, trong hành trình đức tin của mình, Mẹ luôn âm thầm nhưng cũng luôn là nơi trợ giúp hiệu quả trong sứ vụ của Con Mẹ. Trong Chúa nhật cầu cho ơn thiên triệu và đời sống thánh hiến, xin Mẹ khơi lên trong lòng người trẻ niềm tin và lòng quảng đại đáp lại tiếng Chúa mời gọi. Chúng ta hãy cầu nguyện như Mẹ và với Mẹ. Tôi chúc lành cho anh chị em và cho các bạn trẻ để các bạn đáp lại cách hăng say tiếng gọi của Chúa.”
Đặng Thế Nhân
Radio Vatican – Tiếng Việt

Thân xác, tính dục, tình yêu và khiết tịnh

Chủ Nhật, 15 tháng 5, 2011

WHĐ (14.05.2011) – Sáng 13-05, Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI đã tiếp kiến các tham dự viên cuộc gặp gỡ do Viện giáo hoàng về Hôn nhân và Gia đình Gioan Phaolô II tổ chức.

Mở đầu huấn từ, ĐTC nhắc lại cách nay 30 năm, tân Chân phước Gioan Phaolô II đã thành lập Viện Gioan Phaolô II và thiết lập Hội đồng Tòa Thánh về Gia đình, và cũng cách nay đúng 30 năm, vào ngày 13-05-1981, Chân phước Gioan Phaolô II bị mưu sát tại quảng trường Thánh Phêrô.

Đức Thánh Cha đã gợi cho các thành viên của Viện một số điểm nhằm “nối kết suy tư thần học về thân xác với suy tư thần học về tình yêu để tìm sự thống nhất trong đường đi của con người”.

Sau khi khẳng định “thân xác là nơi tinh thần có thể nương náu”, Đức Thánh Cha nhấn mạnh: “Từ điểm nhìn này, có thể hiểu thân xác của chúng ta không phải là một chất liệu trơ, câm lặng, nhưng đang lên tiếng nói, và nếu chúng ta biết lắng nghe, tiếng nói của thân xác chính là ngôn ngữ của tình yêu đích thực…”

Đức Thánh Cha giải thích: “Thân xác nói với chúng ta về một cội nguồn mà tự mình chúng ta không có được. Chỉ khi nhận ra tình yêu từ nguyên thủy đã ban sự sống cho mình, con người mới có thể chấp nhận chính mình, và chỉ khi ấy con người mới có thể giao hòa được với thiên nhiên và với thế giới”.

Đề cập việc Chúa dựng nên tổ tiên loài người, Đức Thánh Cha nhấn mạnh: “Trước khi sa ngã, thân xác của Ađam và Eva bộc lộ sự hòa hợp hoàn hảo. Nơi họ có một thứ ngôn ngữ mà họ không tạo ra, đó là Eros (Ái tinh) bắt rễ sâu trong bản tính con người, mời họ cùng đón nhận nhau như quà tặng từ Đấng Tạo dựng, để như thế họ có thể tự hiến mình... Như vậy sự hợp nhất trong một thân xác trở nên sự hợp nhất trong toàn thể cuộc sống, đến mức người nam và người nữ cũng trở nên một tinh thần duy nhất”.

“Chính vì thế - Đức Thánh Cha nói - đức khiết tịnh mang một ý nghĩa mới. Không phải là nói ‘không’ với khoái lạc và với niềm vui sống, mà là nói ‘có’ một cách hùng hồn với tình yêu như một mối thông truyền sâu xa giữa con người với nhau, điều này đòi hỏi phải có thời gian và sự tôn trọng như một con đường cùng nhau hướng tới sự thành toàn và như tình yêu trở nên có khả năng sinh ra sự sống và quảng đại đón nhận sự sống mới được sinh ra”.

Đức Thánh Cha lưu ý: “Thân xác cũng có tiếng nói tiêu cực: nó nói với chúng ta về sự áp bức người khác, về khát vọng sở hữu và lợi dụng. Tuy nhiên, chúng ta biết, loại ngôn ngữ này không liên quan đến kế hoạch ban đầu của Thiên Chúa, mà là kết quả của tội lỗi. Khi tách khỏi lòng hiếu thảo, khỏi mối liên hệ với Đấng đã dựng nên mình, thân xác nổi loạn chống lại con người và làm mất đi khả năng thể hiện sự thông hiệp và trở thành lãnh địa thuộc sở hữu của kẻ khác. Phải chăng đây chính là bi kịch của tính dục ngày nay, một tính dục vốn đang bị giam trong vòng suy đồi của thân xác và khoái cảm, mà thực tế nó chỉ có thể thành toàn khi được gọi hướng đến điều cao cả hơn?”

“Thiên Chúa ban cho con người con đường cứu chuộc thân xác mà ngôn ngữ của nó được bảo tồn trong gia đình… là nơi mà suy tư thần học về thân xác và về tình yêu đan quyện với nhau. Gia đình là nơi thể hiện ơn ban cho con người được nên một trong thân xác, trong tình yêu đôi lứa liên kết họ thành vợ chồng. Chính gia đình là nơi thể hiện sự phong nhiêu của tình yêu và là nơi nối kết sự sống giữa các thế hệ khác nhau. Chính trong gia đình con người nhận ra mình có tính tương quan, không phải là một cá thể đơn lẻ, tự lập, mà là một người con, một người chồng, người vợ, một người cha, người mẹ mà căn tính được xây dựng dựa trên ơn gọi yêu thương, đón nhận và hiến mình cho tha nhân”.

Kết thúc huấn từ, Đức Thánh Cha nhắn nhủ: “Thiên Chúa đã nhận lấy thân xác và mặc khải chính mình qua thân xác đó… Là Con, Ngài đã nhận lấy thân xác làm con trong niềm biết ơn và lắng nghe Chúa Cha, đồng thời đã hiến thân xác này cho chúng ta, để một thân thể mới của Hội Thánh được hình thành”.

(Theo VIS)

Con chiên của Chúa

Thứ Bảy, 14 tháng 5, 2011

Suy niệm Chúa nhật 4 Phục Sinh, Ga 10,1-10


Trong cuốn sách có tựa đề The Holy Land - Vùng Đất Thánh, John Kellman kể rằng: có một du khách đi viếng Thánh Địa tìm đến một cái chuồng chiên trong thung lũng Hebron. Đó là một bức tường bằng đá chung quanh, cao khoảng 1,4m và chỉ có một lối vào. Du khách hỏi kẻ chăn chiên đang ngồi cạnh đó: “Cửa chuồng ở đâu?” Người chăn chiên liền đáp: “Tôi chính là cửa chuồng. Đêm đến, sau khi lùa chiên vô chuồng, tôi nằm chặn ngang lối vào chật hẹp này, không có con chiên nào có thể bỏ chuồng ra đi, và cũng chẳng có thú rừng nào có thể đi vào mà không bước qua xác tôi.”
                                          
Câu chuyện này có thể gợi cho chúng ta một vài chi tiết liên quan đến bài Tin Mừng hôm nay, trong đó Chúa Giêsu tự ví mình là người mục tử, (...) “chiên nghe tiếng của anh; anh gọi tên từng con, rồi dẫn chúng ra... anh đi trước và chiên đi theo sau, vì chúng nhận biết tiếng của anh. Chúng sẽ không theo người lạ, nhưng sẽ chạy trốn, vì chúng không nhận biết tiếng người lạ.”

Người Dothai là dân du mục, cho nên những hình ảnh này rất đỗi thân thuộc và nhiều ý nghĩa đối với họ. Họ nhìn thấy nơi những thực tại quen thuộc ấy một biểu tượng giá trị cho những thực tại tôn giáo. Mục tử là hình ảnh mô tả đúng tình yêu của Giave Thiên Chúa đối với họ, và đàn chiên là hình ảnh rõ nét tương quan của họ với Ngài.

Ở trên tường nhà thờ Cầu Rầm của chúng ta có đắp bức tượng Chúa Giesu, một tay cầm gậy mục tử, một tay bế con chiên con, và xung quanh Ngài là một đoàn chiên đông đúc mà Ngài dẫn đến dòng suối nước. Không biết ai là người đã sáng tác ra bức tượng này, nhưng chúng ta biết chắc rằng nó được cảm hứng từ thánh vinh 22, là bài bài đáp ca chúng ta vừa nghe ca đoàn hát rất hay: “Chúa là mục tử chăn dắt tôi, Người đưa tôi tới dòng nước trong lành và bổ sức cho tôi.” Nhìn ngắm bức tượng này, anh chị em và tôi có thể cảm nhận được điều gì đó rất là gần gủi thân thương.

Thỉnh thoảng tôi có gặp những người mới theo đạo, sau nghi thức rửa tội, dường như có một điều gì đó thay đổi trong nội tâm của họ, bấy giờ họ được trở thành con chiên của Chúa, điều mà trước đây họ chưa được, và họ dùng từ con chiên áp dụng cho mình với niềm vui sướng và hạnh phúc. Mỗi người Kito hữu chúng ta đây, có thể một lúc nào đó trong đời, cảm nhận được hạnh phúc được làm con chiên của Chúa. Mặc dù không phải là dân du mục, nhưng chúng ta cũng dùng từ ‘con chiên’ để chỉ người theo đạo. Và từ ngữ mục tử, con chiên đã trở thành thân thuộc đối với người Việt chúng ta. Ước gì qua những từ ngữ quen thuộc đó, chúng ta cảm nhận được giá trị tôn giáo của nó: Mục tử là hình ảnh mô tả tình yêu của Giave Thiên Chúa đối với chúng ta là dân Thiên Chúa, và đàn chiên là hình ảnh rõ nét tương quan của chúng ta đối với Ngài.

Đối với dân du mục, đàn chiên là nguồn thu nhập chính. Do đó, người mục tử phải ở bên đàn chiên gần như suốt cả ngày lẫn đêm. Vì thế, anh có thể biết rõ con nào khoẻ mạnh, con nào đau yếu, con nào hay bỏ bầy… và anh cũng biết cách chăm sóc cho từng con chiên một.

Chúng ta hãy chú ý từ ngữ Chúa Giesu dùng: “chiên nghe tiếng của anh; anh gọi tên từng con, rồi dẫn chúng ra... anh đi trước và chiên đi theo sau, vì chúng nhận biết tiếng của anh.” Các từ ngữ này diễn tả một tình yêu thương cá vị. Thiên Chúa yêu thương tất cả mọi người, nhưng không phải bằng một tình yêu chung chung, mà là tình yêu đặc biệt dành cho từng người. Ngài biết rõ từng người, từng hoàn cảnh, từng số phận. Nơi Thiên Chúa không có thiên vị, mà mỗi người đều được hưởng trọn vẹn tình yêu của Ngài.

Chúa gọi tên từng người. Từ hư vô, tôi được Chúa gọi thành người, làm một người trên trần gian này. Là người tôi được Chúa gọi là con chiên của xứ Cầu Rầm này. Rồi sẽ có một ngày Chúa gọi tôi về với Ngài ở thế giới bên kia. Ngoài ra còn có những tiếng gọi khác nữa: Chúa gọi những người nam, người nữ một cách gián tiếp qua con tim của những người khác giới để người họ thành vợ thành chồng. Hay là tiếng gọi tu trì để ai đó trở thành linh mục, tu sĩ... như trường hợp của Samuel.

Anh chị em biết câu chuyện của Samuel: một ngày nọ Samuel ngủ trong đền thờ, thì nghe tiếng gọi “Samuel, Samuel” ... Hay trong trường hợp của bà Maria Madalena buổi sáng phục sinh: bà gặp Chúa Giesu, nhưng cứ nghĩ là người làm vườn, cho đến khi Chúa gọi tên bà Maria, lập tức bà nhận ra Đấng phục sinh.

Người Việt chúng ta ví von rất hay khi nói rằng tiếng chuông nhà thờ là tiếng Chúa gọi. Nó cũng giống như tiếng của mục tử gọi chiên của mình đi về đồng cỏ xanh tươi.

Vấn đề là chúng ta làm sao để nhận ra được tiếng Chúa. Điều này dẫn đến một chủ đề thiết thân với đời sống đạo của chúng ta đó là việc nhận biết Chúa. Nhận biết Chúa cũng có nghĩa là gặp gỡ Chúa hay nói cách khác là kinh nghiệm về Thiên Chúa. Điều này cũng tương tự như nhận biết một con người, điều chỉ đạt được khi chúng ta gặp gỡ đích thân người đó. Vì thế chúng ta hãy cầu nguyện cho được ơn nhận biết Thiên Chúa.

Đây là thứ hiểu biết mà người dân miền Samaria đã có đối với Chúa Giesu sau khi họ được người phụ nữ Samaria giới thiệu: “Tự trong thành, có lắm người Samaria đã tin vào Ngài, vì lời phụ nữ chứng thực: Ông ấy đã nói với tôi tất cả những gì tôi đã làm. Vậy khi những người Samaria đến gặp Chúa Giesu, họ xin Ngài ở lại với họ. Và Ngài đã lưu lại đó hai ngày. Có nhiều người hơn nữa tin vào Ngài, và họ nói với người phụ nữ: ‘Không phải vì câu chuyện của chị mà chúng tôi tin, vì chính chúng tôi cũng đã nghe và chúng tôi biết thật Ngài là Đấng cứu thế” (Ga 4).

Ước gì mỗi người Kito hữu chúng ta có ngày nói được với các linh mục hay là giáo lý viên như thế: ‘Không phải vì câu chuyện của quí vị mà chúng tôi tin, vì chính chúng tôi cũng đã nghe và chúng tôi biết thật Ngài là Đấng cứu thế”. Đây là thứ kiến thức mà Chúa Giesu đích thân ban cho chúng ta.

Thánh Phaolo đã coi trọng kiến thức này đến độ sẵn sàng đổi mọi thứ trên trần gian để có được nó. Chúng ta hãy nghe những lời đầy cảm xúc của thánh nhân: “Những điều kể là lợi lộc cho tôi đó, tôi coi là thua lỗ và bất lợi vì Đức Kito. Tôi coi mọi sự hết thảy là thua lỗ và bất lợi cả, so với cái lợi tuyệt vời là được biết Dức Kito, Chúa của tôi. Vì Ngài tôi đành mất hết, và coi là phân bón cả, để được Đức Kito và kết hợp với Người. Vấn đề là được biết chính Dức Kito, nhất là biết Người quyền năng thế nào nhờ đã phục sinh” (Pl 3,7-10).

Thánh Phaolo đã coi trọng kiến thức Đức Kito như thế; còn chúng ta thì sao? Chúng ta miệt mài nhiều thứ kiến thức khác để phục vụ cho công việc tông đồ. Bản thân tôi cũng như anh chị em tu sĩ khác có thể đã lo lắng học hành đủ thứ. Đi tu rồi mà cứ xin đi học vi tính, tiếng Anh, học nghề ... Tuy nhiên, nếu không có kiến thức Đức Kito thì tất cả những thứ kiến thức khác, tất cả học hàm, học vị của chúng ta, đều là những thứ rác rưởi, vứt đi hết.

Chúng ta thâm tín điều này: Kiến thức Đức Kito không phải là thứ kiến thức mà tự sức chúng  ta có thể có được. Đó là ân huệ thuần túy của Thiên Chúa. Tất cả những gì chúng ta có thể làm được là hãy khiêm tốn nài xin một cách kiên trì. Chính Chúa Cha sẽ đưa chúng ta đến với Chúa Kito và tỏ bày cho chúng ta biết Chúa Kito, như lời Đức Kito nói với Phero: “Simon, con của Gioan, con có phúc, vì không phải phàm nhân mặc khải cho anh điều ấy, nhưng là Cha của Thầy, Đấng ngự trên trời.” (Mt 16,17). Vậy chúng ta hãy khẩn khoản nài xin Chúa Cha lôi kéo chúng ta đên  với Chúa Kito là Mục Tử nhân lành dẫn đưa chúng ta được sống dồi dào. Amen.

Con chiên của Chúa - CN4 PS

Suy niệm Chúa nhật 4 Phục Sinh, Ga 10,1-10


Trong cuốn sách có tựa đề The Holy Land - Vùng Đất Thánh, John Kellman kể rằng: có một du khách đi viếng Thánh Địa tìm đến một cái chuồng chiên trong thung lũng Hebron. Đó là một bức tường bằng đá chung quanh, cao khoảng 1,4m và chỉ có một lối vào. Du khách hỏi kẻ chăn chiên đang ngồi cạnh đó: “Cửa chuồng ở đâu?” Người chăn chiên liền đáp: “Tôi chính là cửa chuồng. Đêm đến, sau khi lùa chiên vô chuồng, tôi nằm chặn ngang lối vào chật hẹp này, không có con chiên nào có thể bỏ chuồng ra đi, và cũng chẳng có thú rừng nào có thể đi vào mà không bước qua xác tôi.”
                                          
Câu chuyện này có thể gợi cho chúng ta một vài chi tiết liên quan đến bài Tin Mừng hôm nay, trong đó Chúa Giêsu tự ví mình là người mục tử, (...) “chiên nghe tiếng của anh; anh gọi tên từng con, rồi dẫn chúng ra... anh đi trước và chiên đi theo sau, vì chúng nhận biết tiếng của anh. Chúng sẽ không theo người lạ, nhưng sẽ chạy trốn, vì chúng không nhận biết tiếng người lạ.”

Người Dothai là dân du mục, cho nên những hình ảnh này rất đỗi thân thuộc và nhiều ý nghĩa đối với họ. Họ nhìn thấy nơi những thực tại quen thuộc ấy một biểu tượng giá trị cho những thực tại tôn giáo. Mục tử là hình ảnh mô tả đúng tình yêu của Giave Thiên Chúa đối với họ, và đàn chiên là hình ảnh rõ nét tương quan của họ với Ngài.

Ở trên tường nhà thờ Cầu Rầm của chúng ta có đắp bức tượng Chúa Giesu, một tay cầm gậy mục tử, một tay bế con chiên con, và xung quanh Ngài là một đoàn chiên đông đúc mà Ngài dẫn đến dòng suối nước. Không biết ai là người đã sáng tác ra bức tượng này, nhưng chúng ta biết chắc rằng nó được cảm hứng từ thánh vinh 22, là bài bài đáp ca chúng ta vừa nghe ca đoàn hát rất hay: “Chúa là mục tử chăn dắt tôi, Người đưa tôi tới dòng nước trong lành và bổ sức cho tôi.” Nhìn ngắm bức tượng này, anh chị em và tôi có thể cảm nhận được điều gì đó rất là gần gủi thân thương.

Thỉnh thoảng tôi có gặp những người mới theo đạo, sau nghi thức rửa tội, dường như có một điều gì đó thay đổi trong nội tâm của họ, bấy giờ họ được trở thành con chiên của Chúa, điều mà trước đây họ chưa được, và họ dùng từ con chiên áp dụng cho mình với niềm vui sướng và hạnh phúc. Mỗi người Kito hữu chúng ta đây, có thể một lúc nào đó trong đời, cảm nhận được hạnh phúc được làm con chiên của Chúa. Mặc dù không phải là dân du mục, nhưng chúng ta cũng dùng từ ‘con chiên’ để chỉ người theo đạo. Và từ ngữ mục tử, con chiên đã trở thành thân thuộc đối với người Việt chúng ta. Ước gì qua những từ ngữ quen thuộc đó, chúng ta cảm nhận được giá trị tôn giáo của nó: Mục tử là hình ảnh mô tả tình yêu của Giave Thiên Chúa đối với chúng ta là dân Thiên Chúa, và đàn chiên là hình ảnh rõ nét tương quan của chúng ta đối với Ngài.

Đối với dân du mục, đàn chiên là nguồn thu nhập chính. Do đó, người mục tử phải ở bên đàn chiên gần như suốt cả ngày lẫn đêm. Vì thế, anh có thể biết rõ con nào khoẻ mạnh, con nào đau yếu, con nào hay bỏ bầy… và anh cũng biết cách chăm sóc cho từng con chiên một.

Chúng ta hãy chú ý từ ngữ Chúa Giesu dùng: “chiên nghe tiếng của anh; anh gọi tên từng con, rồi dẫn chúng ra... anh đi trước và chiên đi theo sau, vì chúng nhận biết tiếng của anh.” Các từ ngữ này diễn tả một tình yêu thương cá vị. Thiên Chúa yêu thương tất cả mọi người, nhưng không phải bằng một tình yêu chung chung, mà là tình yêu đặc biệt dành cho từng người. Ngài biết rõ từng người, từng hoàn cảnh, từng số phận. Nơi Thiên Chúa không có thiên vị, mà mỗi người đều được hưởng trọn vẹn tình yêu của Ngài.

Chúa gọi tên từng người. Từ hư vô, tôi được Chúa gọi thành người, làm một người trên trần gian này. Là người tôi được Chúa gọi là con chiên của xứ Cầu Rầm này. Rồi sẽ có một ngày Chúa gọi tôi về với Ngài ở thế giới bên kia. Ngoài ra còn có những tiếng gọi khác nữa: Chúa gọi những người nam, người nữ một cách gián tiếp qua con tim của những người khác giới để người họ thành vợ thành chồng. Hay là tiếng gọi tu trì để ai đó trở thành linh mục, tu sĩ... như trường hợp của Samuel.

Anh chị em biết câu chuyện của Samuel: một ngày nọ Samuel ngủ trong đền thờ, thì nghe tiếng gọi “Samuel, Samuel” ... Hay trong trường hợp của bà Maria Madalena buổi sáng phục sinh: bà gặp Chúa Giesu, nhưng cứ nghĩ là người làm vườn, cho đến khi Chúa gọi tên bà Maria, lập tức bà nhận ra Đấng phục sinh.

Người Việt chúng ta ví von rất hay khi nói rằng tiếng chuông nhà thờ là tiếng Chúa gọi. Nó cũng giống như tiếng của mục tử gọi chiên của mình đi về đồng cỏ xanh tươi.

Vấn đề là chúng ta làm sao để nhận ra được tiếng Chúa. Điều này dẫn đến một chủ đề thiết thân với đời sống đạo của chúng ta đó là việc nhận biết Chúa. Nhận biết Chúa cũng có nghĩa là gặp gỡ Chúa hay nói cách khác là kinh nghiệm về Thiên Chúa. Điều này cũng tương tự như nhận biết một con người, điều chỉ đạt được khi chúng ta gặp gỡ đích thân người đó. Vì thế chúng ta hãy cầu nguyện cho được ơn nhận biết Thiên Chúa.

Đây là thứ hiểu biết mà người dân miền Samaria đã có đối với Chúa Giesu sau khi họ được người phụ nữ Samaria giới thiệu: “Tự trong thành, có lắm người Samaria đã tin vào Ngài, vì lời phụ nữ chứng thực: Ông ấy đã nói với tôi tất cả những gì tôi đã làm. Vậy khi những người Samaria đến gặp Chúa Giesu, họ xin Ngài ở lại với họ. Và Ngài đã lưu lại đó hai ngày. Có nhiều người hơn nữa tin vào Ngài, và họ nói với người phụ nữ: ‘Không phải vì câu chuyện của chị mà chúng tôi tin, vì chính chúng tôi cũng đã nghe và chúng tôi biết thật Ngài là Đấng cứu thế” (Ga 4).

Ước gì mỗi người Kito hữu chúng ta có ngày nói được với các linh mục hay là giáo lý viên như thế: ‘Không phải vì câu chuyện của quí vị mà chúng tôi tin, vì chính chúng tôi cũng đã nghe và chúng tôi biết thật Ngài là Đấng cứu thế”. Đây là thứ kiến thức mà Chúa Giesu đích thân ban cho chúng ta.

Thánh Phaolo đã coi trọng kiến thức này đến độ sẵn sàng đổi mọi thứ trên trần gian để có được nó. Chúng ta hãy nghe những lời đầy cảm xúc của thánh nhân: “Những điều kể là lợi lộc cho tôi đó, tôi coi là thua lỗ và bất lợi vì Đức Kito. Tôi coi mọi sự hết thảy là thua lỗ và bất lợi cả, so với cái lợi tuyệt vời là được biết Dức Kito, Chúa của tôi. Vì Ngài tôi đành mất hết, và coi là phân bón cả, để được Đức Kito và kết hợp với Người. Vấn đề là được biết chính Dức Kito, nhất là biết Người quyền năng thế nào nhờ đã phục sinh” (Pl 3,7-10).

Thánh Phaolo đã coi trọng kiến thức Đức Kito như thế; còn chúng ta thì sao? Chúng ta miệt mài nhiều thứ kiến thức khác để phục vụ cho công việc tông đồ. Bản thân tôi cũng như anh chị em tu sĩ khác có thể đã lo lắng học hành đủ thứ. Đi tu rồi mà cứ xin đi học vi tính, tiếng Anh, học nghề ... Tuy nhiên, nếu không có kiến thức Đức Kito thì tất cả những thứ kiến thức khác, tất cả học hàm, học vị của chúng ta, đều là những thứ rác rưởi, vứt đi hết.

Chúng ta thâm tín điều này: Kiến thức Đức Kito không phải là thứ kiến thức mà tự sức chúng  ta có thể có được. Đó là ân huệ thuần túy của Thiên Chúa. Tất cả những gì chúng ta có thể làm được là hãy khiêm tốn nài xin một cách kiên trì. Chính Chúa Cha sẽ đưa chúng ta đến với Chúa Kito và tỏ bày cho chúng ta biết Chúa Kito, như lời Đức Kito nói với Phero: “Simon, con của Gioan, con có phúc, vì không phải phàm nhân mặc khải cho anh điều ấy, nhưng là Cha của Thầy, Đấng ngự trên trời.” (Mt 16,17). Vậy chúng ta hãy khẩn khoản nài xin Chúa Cha lôi kéo chúng ta đên  với Chúa Kito là Mục Tử nhân lành dẫn đưa chúng ta được sống dồi dào. Amen.

Nhận biết ơn gọi tu trì

Thứ Sáu, 6 tháng 5, 2011

Hỏi: Thưa cha, xin cha cho biết làm cách nào để nhận ra một người có ơn gọi đời sống tu trì?


Đáp: 
Để trả lời đầy đủ cho câu hỏi trên lại cần đến khá nhiều giấy mực và cả những kinh nghiệm của những nhà đào tạo trong các Dòng tu. Tuy nhiên tôi cho rằng thắc mắc của bạn không đòi hỏi nhiều đến thế. Điều bạn ưu tư cũng trùng hợp với những nỗi băn khoăn của các bậc làm cha làm mẹ khi tự hỏi không biết con mình có ơn gọi đi tu hay không nhất là khi thấy con cái có vẻ ham thích việc đạo đức, ưa bắt chước các cha hay các bà sơ...
Tôi cũng không muốn bàn sâu về đời tu dưới cái nhìn Thần học hay Giáo luật mà chỉ muốn trao đổi với bạn về đời tu theo cách nhìn thông thường không phân biệt tu dòng hay tu làm linh mục.
Ơn gọi tu trì dù ở dưới góc độ nào cũng bao gồm hai yếu tố: lời mời gọi từ phía Thiên Chúa và sự đáp trả từ phía con người.
Làm sao biết được Thiên Chúa kêu gọi mình để có thể đáp lại tiếng gọi ấy?
Chỉ trừ những ơn gọi đặc biệt nghe được tiếng Chúa trong những hoàn cảnh khác thường, còn thông thường thì tiếng Chúa gọi có thể đến từ những thôi thúc nội tâm làm cho ứng sinh cảm thấy ước muốn hiến dâng đời mình cho Thiên Chúa. Ơn gọi có thể đến qua các biến cố như một dịp tĩnh tâm, một lần dự lễ phong chức, một chuyến thăm viếng vùng truyền giáo... Ơn gọi có thể đến từ việc tiếp xúc những vị lãnh đạo trong Hội thánh hoặc tiếp xúc với một cộng đoàn tu hay một vị tu sĩ linh mục mà mình cảm thấy yêu mến và ngưỡng mộ. Có thể ơn gọi được triển nở trong một môi trường mà giá trị đời tu luôn được cổ võ và khích lệ. Tuy nhiên cũng không loại trừ trường hợp ơn gọi nẩy sinh từ những hoàn cảnh khó khăn hay bất lợi cho đời sống đạo. Thậm chí ơn gọi có thể manh nha từ một ước muốn vụ lợi nữa.
Tất cả những tình huống nêu trên chỉ muốn trình bày tiếng gọi của Chúa có thể đến từ nhiều bối cảnh khác nhau và những thôi thúc ban đầu ấy mới chỉ là những dấu hiệu sơ khởi còn cần được củng cố hay thanh luyện bằng những hướng dẫn cụ thể trong suốt quá trình huấn luyện và đào tạo.
Để có thể đáp lời mời gọi của Thiên Chúa, người được kêu gọi cũng cần có một mức độ trưởng thành và được hoàn toàn tự do cũng như thực sự ý thức về quyết định dấn thân của mình. Vì thế mà ứng sinh cũng phải đạt đến một độ tuổi mà sự phát triển về tâm lý cũng như tinh thần tương ứng với đòi hỏi của ơn gọi.
Tùy theo đặc sủng và mục đích của các dòng tu hay điều kiện của các chủng viện mà những tiêu chuẩn có sự khác biệt. Nhìn chung, ta có thể nêu ra những điều kiện cơ bản như sau:
- Có ý hướng ngay lành chứ không bị thúc đẩy bởi những động cơ vụ lợi, không vì áp lực bởi gia đình hay những người xung quanh, không bị tác động bởi môi trường xã hội khiến cho ý hướng tu trì bị vẩn đục
- Có một sức khỏe ổn định để đảm nhận sứ mạng và đòi hỏi của đời tu.
- Có sự quân bình về tâm lý để có thể vượt qua những thách đố của đời tu, để có thể hòa nhập với cuộc sống đời thường, để có những mối tương giao tốt đẹp với người khác về mặt tình cảm cũng như hoạt động.
- Có khả năng trí tuệ thích hợp để có thể đảm trách những công tác được trao phó, và có thể tự trang bị cho mình một vốn kiến thức đầy đủ làm nền tảng vững chắc cho đời sống đức tin theo kịp nhịp tiến bộ của xã hội.
- Có khả năng sống đời tu một cách tích cực nghĩa là tìm thấy niềm vui, sự bình an, hăng say chứ không chỉ là một gánh nặng phải cố mà mang lấy cho xong.
- Có một đời sống luân lý trong sáng và đời sống thiêng liêng tiến triển cách vững chắc. Đời sống ấy phải có hướng đi tới chứ không chỉ là những hăng hái nhất thời và nhạt dần theo năm tháng.
Là những người có trách nhiệm hay có những ưu tư về ơn gọi khi nhận thấy có những dấu hiệu sơ khởi, tích cực ta nên khuyến khích, nâng đỡ những mầm non ơn gọi. Chính đương sự cũng cần phải cầu nguyện để nhận ra tiếng gọi của Chúa. Cần tìm đến với những người khôn ngoan, đạo đức và hiểu biết về đời tu để được hướng dẫn. Điều quan trọng vẫn là thực hiện ý Chúa trên đời mình chứ không phải là tìm cách đeo đuổi ý định của mình hoặc cố gắng làm vui lòng người dù đó là cha mẹ hay người thân. Nếu Chúa đã mời gọi Ngài cũng sẽ ban cho những ơn huệ và năng lực để đáp trả.

Giáo xứ Hòa Ninh: 55 đôi hôn phối mừng 50 năm thành hôn

Thứ Hai, 2 tháng 5, 2011

Ngày 28/4/2011, tại nhà thờ Hòa Ninh, 55 cặp cụ ông cụ bà đã mừng Kim khánh thành hôn. 110 ông bà cùng với con cháu và khách mời đã chiếm gần hết nhà thờ Hòa Ninh, ngôi nhà thờ lớn nhất ở tỉnh Quảng Bình, thuộc miền Trung Việt Nam.

Thánh lễ do Đức cha Phaolo Cao Đình Thuyên chủ sự. Cùng đồng tế với ngài có 12 linh mục khác.



Đây là lần đầu tiên một thánh lễ loại này được cử hành tại nhà thờ Hòa Ninh. 

'Nghèo và thọ'

Hòa Ninh là một làng quê nghèo, bên bờ sông Gianh, thường xuyên đương đầu với nắng, gió, bão, lũ. Làng Hòa Ninh đất chật người đông, người Hòa Ninh quanh năm chân lấm tay bùn.


Trong số những người kỷ niệm Kim khánh hôm nay, có một số cặp lấy nhau những năm 50 của thế kỷ trước. Nhiều ông bà vẫn còn khỏe mạnh lanh lợi: nhiều cụ lưng chưa còng, mắt còn sáng; điển hình là cụ ông 73 tuổi lên đọc sách thánh không phải đeo kính. Như thế, viễn cảnh về một ngày lễ Ngọc khánh, 60 năm thành hôn, sẽ rất gần và có khá nhiều đôi.

Thật là ngạc nhiên về số lượng đông đảo cụ ông cụ bà sống thọ như vậy tại một làng quê nghèo khó này.

Quả đúng là: 

"Hòa Ninh là đất bằng yên
trên hòa dưới thuận
ước thiên niên thọ trường
nghĩ: phong thổ nhà vương
trong huyện này có một.

Đã dân thuần thói tốt
lại nhà đủ người no
ơn Chúa phù hộ cho
được trăm đường vui vẻ.

Giáo lương cùng sức khỏe
việc làng nước tương yên
ca nhị trạch nhị điền
đành an cư lạc nghiệp."


'Sùng đạo'

Người Hòa Ninh được tiếng là sùng đạo. Trong kho tàng ca dao Hòa Ninh có câu: "Đạo Hòa Ninh như đinh đóng cột", hay "Cam Xã Đoài, khoai Mỹ Dụ, cụ Hòa Ninh".

Trên trang nhà Hòa Ninh quê hương bọ mạ, có một thống kê nói là đã có 56 linh mục có gốc gác từ làng Hòa Ninh. 

Một người Hòa Ninh lương dân cũng ghi nhận:

"Đạo Hòa Ninh mấy chục năm ni
thờ Chúa, có nhiều cha lên cung thánh,
có bà phước trắng tinh màu từ thiện,
có ông già sùng đạo Vatican."

(>>Lương giáo Hòa Ninh của Nguyễn Anh Tài).

Dầu vậy, đạo Hòa Ninh có thể đã mai một. Bằng chứng là trong số con cháu của 55 đôi hôi phối trên đây, đã sản sinh ra 1 linh mục, 3 nam nữ tu và 4 dự tu. Đó là con số ít ỏi so với truyền thống của Hòa Ninh.

'Tinh nghịch và hài hước'

Người Hòa Ninh còn nổi tiếng về sự tinh nghịch và hài hước. Thật vậy, trong quá trình làm nhà thờ Hòa Ninh, có một giai thoại như sau:

Cha già Khoan vốn quản xứ Hòa Ninh trước cha Thuận. Khi làm nhà thờ Hòa Ninh, ngài thường tới lui coi sóc góp ý. Vào dịp Tết, ngài cùng một số giáo dân Thọ Đơn lên thăm và được đón tiếp ân cần. Trong lúc đó, trai tráng trong làng đang kéo gỗ. Khi gần đến nhà xứ, ông tri Mạnh, thân phụ anh Đoàn Công Khanh, tinh nghịch hò:

Ô hộ! Dân làng đà khó nhọc
kéo những gỗ với săng
thịt lợn với bánh chưng
về Thọ Đơn hết thảy.

Câu hò đến tai cha Khoan. Ngài cho mời ông tri Mạnh vào hỏi tội và dọa phạt mấy roi.

- Thưa cha, chơ mần răng mà cha phạt con?


- Lúc kéo săng về, anh đạ hò nhựng câu xi, lập lại cho cha nghe!


- Thưa cha, từ đưới lò rèn về có diều câu lắm, con biết câu mô?


- 
Câu anh hò sau nhà ông Đoàn Nghé.


- À. Câu nớ thì ... như ri, ông tri Mạnh đắng hắng lấy giọng:

Ô hộ! Dân làng đà khó nhọc

kéo những gỗ với săng
thịt lợn với bánh chưng
hãy mài răng có buổi!

Cha Khoan lắc đầu, khen cho tài xoay xở của ông Mạnh, và vui vẻ tha roi.

Có lẽ nhờ tính hài hước mà  người Hòa Ninh sống thọ chăng?

Lm JB Phạm Quang Long